LỊCH SỬ
- PHÁP LÝ - HIỆN THỰC - TÌNH NGƯỜI
(trả
lời Lê Huy Tuấn về vụ đòi "Tòa khâm")
Đối với
vấn đề vụ “đòi” Tòa khâm của người Công giáo, người
Phật tử không phải vì thế mà lật lại lịch sử để đòi
lại chùa Báo Thiên, chẳng qua hành động “đòi” của người
Công giáo (trên một mảnh đất mà có lúc thái độ văn hóa
và tình người đã bị bỏ quên ấy) đã gợi nhắc lại cho
người Phật tử một nỗi ngậm ngùi.
Sau khi xâm
chiếm Việt Nam, thiết lập chế độ cai trị, thực dân Pháp
chiếm phá không ít chùa chiền lấy đất đai để xây dựng
công sở và giao cho Giáo hội Công giáo xây dựng nhà thờ
và các cơ ngơi phục vụ cho lợi ích của giáo hội và chính
sách nô dịch văn hóa của thực dân. Thực dân Pháp đã duy
trì quan hệ sản xuất phong kiến, đồng thời cho phép tư
bản Pháp chiếm hữu và khai thác ruộng đất ở nước ta
trên quy mô lớn. Đến nǎm 1890, ở Việt Nam đã có 126 đồn
điền, hầu hết là của các cố đạo, võ quan và thực dân
người Pháp. Số ruộng đất mà họ khai thác ở Trung Kỳ
là 3.484 hécta, Bắc Kỳ là 3.068 hécta và Nam Kỳ là 4.346 hécta.
Năm 1873,
được sự đồng ý của chính quyền thuộc địa, giáo hội
chiếm một khu đất thuộc chùa Báo Thiên và cho xây dựng
ở đây một nhà thờ bằng gỗ. Đến năm 1883 chùa Báo Thiên
hoàn toàn được phá bỏ để xây dựng Nhà thờ lớn Hà Nội,
thay thế cho ngôi nhà thờ bằng gỗ. Tòa Khâm Sứ Hà Nội
là một phần của Nhà thờ lớn Hà Nội, nằm cạnh Toà Giám
Mục trong khuôn viên đất nhà thờ. Năm 1950, Khâm sứ John
Dooley của Vatican chuyển trụ sở ra Hà Nội, được Tòa Tổng
Giám Mục Hà Nội “cho mượn” (chứ không phải cấu kết)
phần đất đó để làm Tòa Khâm Sứ.
Năm 1959,
chính phủ Việt Nam Dân Chủ Công Hòa bắt đầu áp dụng các
biện pháp nghiêm ngặt đối với đạo Công Giáo, ra lệnh
cho các giáo sĩ ngoại quốc phải rời khỏi Miền Bắc. Tòa
Khâm Sứ của Vatican tại Hà Nội bị tịch thu, một bức tường
ngăn cách giữa Tòa Giám Mục Hà Nội và Toà Khâm Sứ đã
được chính quyền dựng lên. Sau đó Tòa Khâm Sứ đã được
sử dụng vào nhiều mục đích phục vụ công ích khác nhau,
có thời kỳ được dùng làm nhà văn hóa thiếu nhi...
Đây là những
động thái mang tính “chính sách”. Bởi từ năm 1950 đến
năm 1959 (thời gian Khâm sứ John Dooley hoạt động chống Cộng
và bị trục xuất) là thời gian có nhiều biến động về
chính sách đất đai của Chính phủ VNDCCH (không phải CHXHCNVN
bây giờ, vì chính bản thân sự chưa hoàn thiện về chính
sách của nó khi ấy cũng đã là một giới hạn lịch sử.
Và như vậy Giáo hội Công giáo khi ấy (đang nơm nớp sợ
tội, sợ bị quy chụp…) càng không phải là Giáo hội Công
giáo hiện nay. Vì vậy “chủ thể” đã có những biến thiên
về hình thái, tính chất và chịu sự quy định của những
hoàn cảnh lịch sử cụ thể).
Cụ thể
như: Ngày 4-12-1953, luật Cải Cách Ruộng Đất ra đời. Với
các điều luật sau: Điều 1: Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng
đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác
ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng
đất của giai cấp địa chủ. Điều 2: Tịch thu toàn bộ
ruộng đất và tài sản của thực dân Pháp và của đế quốc
xâm lược khác. Điều 3: Đối với địa chủ Việt gian, phản
động, cường hào gian ác, thì tuỳ tội nặng nhẹ mà tịch
thu toàn bộ hoặc một phần ruộng đất, trâu bò, nông cụ,
lương thực thừa, nhà cửa thừa và tài sản khác (rất nhiều
giáo sĩ Công giáo bị bắt giam, xét xử và quy vào điều luật
này). Điều 10: Ruộng đất của tôn giáo (Nhà Chung, nhà chùa,
thánh thất, tu viện, v.v...) thì trưng thu và trưng mua. Trường
hợp có mua chính đáng thì trưng mua.
Luật Cải
Cách Ruộng Đất được bắt đầu bằng sắc lệnh ra ngày
20-4-1953, đăng trên công báo của Chính phủ. Đặc điểm của
nó là ngoài luật lệ thêm vào thì luật mới là quyết định
tịch thu tất cả tài sản của đế quốc Pháp, của Việt
gian, của địa chủ ác ôn. Như vậy so với luật Cải Cách
Ruộng Đất và sắc lệnh được ban ra sau đó, thì khi trục
xuất khâm sứ John Dooley, việc giữ lại nhà thờ Lớn không
để bị trưng thu, trưng mua đã là một nhân nhượng, còn
tòa Khâm đương nhiên bị tịch thu vì đó là nơi ở của
tay sai Vatican, cấu kết với thực dân Pháp chống phá Chính
phủ. Với những điều kể trên, những mua bán, trao đổi,
“cho mượn” trước đó là không còn hiệu lực.
Sau khi luật
Cải Cách Ruộng Đất ban hành, Chính phủ VNDCCH đã gặp phải
một số sai lầm khi tiến hành. Xong sau khi sửa sai, gần như
chỉ đơn thuần là phục hồi đảng tịch, quy lại thành phần
(từ địa chủ, phú nông trở lại thành trung nông) chứ không
hề có việc trả lại tài sản, nhà đất. (Đến năm 2004,
theo báo Hà Nội Mới, UBND TP. Hà Nội mới ra quyết định
trợ cấp cho một số trường hợp bị quy sai thành phần và
có tài sản bị trưng thu, trưng mua trong thời kỳ cải cách
ruộng đất với mức ba triệu đồng một trường hợp).
Vấn đề
đất đai có nhiều thay đổi lớn sau hiệp định Genève, vì
lúc đó có khoảng một triệu người bỏ Miền Bắc di cư
vào Nam (trong đó hơn 2/3 người Công giáo tin vào lời đồn
Đức Mẹ Đồng Trinh đã vào Nam nên họ bỏ giáo sứ, bỏ
nhà đi theo), để lại toàn bộ điền sản tại quê nhà. Sau
khi tái tổ chức chính quyền, tạm ổn định tình hình, Hồ
Chí Minh ký sắc luật về Cải Cách Ruộng Đất ngày 14-6-1955.
Sắc luật này căn bản dựa trên hai sắc lệnh tháng 4 và
tháng 12-1953, theo đó nhà nước tịch thu toàn bộ tài sản
đất đai, nhà cửa, gia súc, nông cụ… của những người
theo thực dân, địa chủ gian ác, cường hào ác bá, Việt
gian, phản động; trưng thu không bồi thường. Tiếp tục tước
quyền sở hữu đất đai của các tổ chức Thiên Chúa giáo,
Phật giáo… Lập toà án nhân dân để chuyên xét xử các
địa chủ phản động, gian ác, những người chống phá "cách
mạng" hay chống phá Cải Cách Ruộng Đất.
Chỉ tính
riêng trong khoảng thời gian John Dooley quản trưởng tại Tòa
khâm (1950-1959) đã cho thấy trong quan hệ này không có cái
gọi là “chủ thể tương ứng”, vì sao? Vì Giáo hội Công
giáo không phải là một nhà nước mà chỉ là một thành phần
dân chúng đang chịu sự quy định của pháp luật, cụ thể
là chính sách Cải Cách Ruộng Đất, và vì trong con mắt của
chính quyền sự hiện diện của Khâm sứ John Dooley là bất
hợp pháp, là phi nghĩa, là phản động. Và khi họ nói “cho
mượn” có nghĩa họ muốn nói rằng họ chẳng phải là một
với Vatican. Thế thì họ “cho mượn” nhà mà để người
khác sử dụng sai mục đích tôn giáo thì mất nhà không thể
kêu ca vào đâu được. Bởi trong con mắt chính phủ đó là
một trụ sở chống phá. Tịch thu là điều đương nhiên.
Nếu lấy
năm 1975 như là một mốc lịch sử cho những thay đổi trong
nhận thức về đất đai thì vào năm ấy đất đai ở miền
Bắc đã nằm dưới những dạng phổ biến là hợp tác xã
bậc thấp, bậc cao và nông trường. Việc cải tạo nông nghiệp,
cũng như tiến trình quốc hữu hóa ở miền Bắc cơ bản đã
hoàn thành trước năm 1960. Đất đai hoàn toàn không còn nằm
trong tay sở hữu tư nhân. Trong khi đó, miền Nam, cuộc cải
tạo nông nghiệp bắt đầu từ năm 1976 và qua các giai đoạn:
tịch thu ruộng đất, phân chia lại cho công bằng và tập
thể hóa. Những cố gắng này được đẩy rất mạnh và kết
quả của nó được nhắc lại trong một chỉ thị ban hành
vào năm 1988. Đến thời điểm đó cái gọi là “chủ thể
gần nhất” ấy cũng không có một giá trị sở hữu nào
ngoài sở hữu tập thể.
Sự kiện
đất chùa bị thực dân Pháp và Công giáo chiếm đoạt cho
đến sự kiện Tòa khâm bị tịch thu đều là một thực tế
lịch sử đã nằm ngoài khuôn khổ pháp lý hiện hành dù thời
gian là ngắn hay dài. Cụ thể trong khoản 2 điều 10 Luật
Đất đai đã quy định: "Nhà nước không thừa nhận việc
đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước
cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách
đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, chính
phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà
nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam". Về chi tiết,
cụ thể, khoản 1 điều 4 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày
29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai đã quy định: "Nhà nước
không thừa nhận việc đòi lại đất và không xem xét việc
giải quyết khiếu nại về việc đòi lại đất mà Nhà nước
đã giao cho người khác sử dụng theo các chính sách ruộng
đất trước ngày 15/10/1993 trong các trường hợp sau: a. Đất
bị tịch thu, trưng thu, trưng mua khi thực hiện Cải Cách Ruộng
Đất ở miền Bắc; chính sách xoá bỏ triệt để tàn tích
chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột thực dân
phong kiến ở Miền Nam.
Tuy nhiên
đối với vấn đề vụ “đòi” Tòa khâm của người Công
giáo, người Phật tử không phải vì thế mà lật lại lịch
sử để đòi lại chùa Báo Thiên, chẳng qua hành động “đòi”
của người Công giáo (trên một mảnh đất mà có lúc thái
độ văn hóa và tình người đã bị bỏ quên ấy) đã gợi
nhắc lại cho người Phật tử một nỗi ngậm ngùi.
Và chính
là thái độ bất chấp diễn trình lịch sử, bước qua khung
pháp lý với độ dài là 50 để kêu gào cái gọi là “chủ
thể hiện hành” đã gợi nhắc cho người dân Việt Nam về
hình bóng những yêu sách trắng trợn của thực dân Pháp.
Và bởi trong khi pháp luật được thực thi thì họ không dám
mở miệng để “đòi công lý”. Quả là “gian khổ” cho
một hành trình lật lại sự kiện của 50 năm về trước.
Nhưng họ
có ý nghĩ những điều họ đã đối xử với dân tộc này
khi còn biết bao những mất mát chưa nguôi ngoai của dân tộc
Việt Nam vẫn còn hằn lên trên mỗi gia đình, ai là người
thay họ đi “đòi”? Bị tịch thu một mảnh đất Tòa khâm
(do những hoạt động trái phép) thì họ đau đớn như lóc
xương chẻ thịt vậy. Còn Phật giáo mất bao nhiêu ngôi chùa,
dân tộc mất bao nhiêu di sản văn hóa thì họ xem như là chuyện
“dĩ vãng”.
Lê Huy Tuấn
viết: “Ngoài việc sự vụ xảy ra ngay dưới chế độ hiện
hành, theo những thông tin được đưa ra từ phía Giáo hội,
họ có các văn bản cần thiết (nói trống) làm cơ sở cho
yêu cầu của mình (yêu sách). Vấn đề còn lại giờ đây
là vấn đề giá trị thực của các chứng thư đó và hiệu
lực của chúng có nằm trong khuôn khổ thừa nhận của hệ
thống quy định pháp luật hay không”. Đến đây mới lộ
rõ hành động “đòi” quả thực rất hồ đồ, vì biết
bao con người như vậy mà không nghiên cứu xem pháp luật Việt
Nam quy định như thế nào à?
Rõ ràng chính
bản thân người Công giáo đã cố tình “đánh bùn sang ao”
để bước qua lịch sử, bước qua khung pháp lý hiện hành
và bước qua cả hiện thực (là những người công dân đang
sống trên mảnh đất Việt Nam cần phải tuân thủ theo hiến
pháp và pháp luật Việt Nam cho dù đó là điều cá nhân mình
không bằng lòng vì sự khiếm khuyết nào đó của nó).
Cách nói
trên của Lê Huy Tuấn cho thấy họ chẳng có những văn bản
cần thiết nào cả, ngoài cái gì đó còn vấn vương trong
trí óc họ, rằng Tòa khâm là đất nhà thờ Lớn cho Khâm
sứ John Dooley “mượn”, còn “mượn” như thế nào thì
trời biết đất biết. Trong khi đó Chính quyền rất có thể
họ sẽ nói: “Chúng tôi có tịch thu gì của các ông đâu,
Toà Khâm Sứ là chúng tôi thu từ chính quyền thực dân, nên
các ông không có quyền đòi lại” (LS Trần Vũ Hải). Và
cho dù có bằng chứng gì đó đi chăng nữa thì Chính quyền
cũng không thể sửa đổi pháp luật để đáp ứng yêu sách
đó. Cho nên người Công giáo đừng tiếp tục hô hào rằng
nhà nước “vi phạm pháp luật”, “cướp đất tôn giáo”...
Vì nó sẽ dẫn đến một hậu qủa xã hội không thể lường
trước được.
Nếu một
lúc nào đó sự việc chuyển biến có lợi cho vụ việc “đòi”
đất của người Công giáo đi chăng nữa thì chỉ có thể
là một sự nhân nhượng nằm ngoài pháp lý và nằm ngoài
lối ửng xử thông thường của tình người, lợi ích dân
tộc chứ không bao giờ nằm trong cái gọi là “vì công lý”
cả.
Trần Minh
Khoa
(Blog Sen
Việt)
01-20-2008
11:23:55