TÂM THƯ
GỬI ĐỒNG BÀO CÔNG
GIÁO CẦU NGUYỆN ĐÒI TOÀ KHÂM SỨ
Trong vài
tuần nay, tôi được biết một số giáo dân Hà Nội và ở
một vài địa phương - những người đồng bào cùng máu đỏ
da vàng, cùng chung dòng giống Lạc Hồng, chung cội nguồn đã
xuống đường “cầu nguyện”, thắp nến đòi Nhà nước
trả lại “Tòa khâm sứ”, đòi “công lý” để phục vụ
Thiên chúa, phục vụ Giáo hội. Đó là lý do để tôi, một
người Phật tử Việt Nam, từ trong tâm, từ tình cảm đồng
bào, từ vị trí của người công dân Việt Nam viết bức
thư này gửi đến quý vị.
Cứ mỗi
lần từ phố Tràng Thi rẽ phải vào phố Nhà Chung, đi qua
nhà thờ Lớn, lòng tôi lại trào dâng nỗi niềm xúc động,
ngậm ngùi. Trên con đường này, mảnh đất này của Thăng
Long ngàn năm văn hiến đã từng có một ngôi chùa, một ngôi
chùa hết sức đặc biệt trong lịch sử dân tộc, trong tâm
khảm của bao lớp người dân xứ kinh kỳ.
Năm Bính
Thân (1057), vua Lý Thánh Tông cho làm chùa
Sùng Khánh Báo Thiên, phát 1 vạn 2 nghìn cân đồng
để đúc chuông lớn. Vua cho xây tháp Đại Thắng Báo Thiên
12 tầng, cao vài chục trượng. Đứng trên tầng cao nhất của
tháp có thể trông thấy quang cảnh khắp Thăng Long. Ngôi tháp
đã được coi là “An Nam tứ khí”. Cả Tháp, Chùa đều
quay mặt về hướng đông nhìn ra chiếc hồ lớn màu xanh biếc
tên gọi hồ Lục Thủy (đến thời Lê mới đổi là hồ Hoàn
Kiếm), có nhiều người cũng gọi là hồ Báo Thiên. Trước
mặt Tháp Báo Thiên có một bãi cỏ rộng chạy dài tới sát
mép hồ. Bên kia hồ là là những ruộng dâu xanh ngắt trải
dài đến tận bờ sông Cái.
Thời Trần,
Tháp
Báo Thiên là một tụ điểm lớn của kinh đô Thăng
Long. Ngày tết và tháng giêng, hội chùa Báo Thiên là một
lễ hội tưng bừng bậc nhất kinh kỳ. Trải qua gần ngàn
năm lịch sử, ngôi chùa, ngọn tháp đã trở thành một biểu
tượng văn hóa, tâm linh, trở thành một di sản vật chất
và tinh thần vô cùng quý báu của dân tộc.
Ấy thế
rồi thực dân Pháp xâm lược, đô hộ nước ta. Ðến năm
1884, sau khi đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai, thực dân Pháp,
dưới sự tiếp tay của tín hữu Ki-tô giáo đã tịch thu đất,
cho phá Tháp và Chùa để xây dựng nhà thờ Thánh Josep, tức
Nhà thờ Lớn Hà Nội ngày nay. Rồi những ngôi chùa khác quanh
hồ Hoàn Kiếm, chùa thì bị Pháp triệt hạ (như chùa Báo
Ân), chùa thì bị Pháp lấn chiếm cấp đất cho giáo dân (như
chùa Bà Đá – trụ sở THPG Hà Nội ngày nay).
Trước một
sự thực lịch sử như thế, được đặt chân đến một
mảnh đất như thế, tôi như được giao cảm, được hòa
mình vào cảnh cũ, chùa xưa, dù chỉ trong tâm thức. Cứ mỗi
lần đi qua, tôi lại trào dâng niềm xúc động vì Phật giáo
đã hòa mình vào lịch sử dân tộc, đã trở thành một thành
tố làm nên nền độc lập, tự chủ và văn hiến của dân
tộc. Tôi tự hào vì đạo Phật đã trở thành đạo của
dân tộc Việt Nam. Người Phật tử trước hết là một người
con Việt, vì đất Việt, theo đạo Phật để tu thân, tích
đức, phụng sự tổ quốc và dân tộc.
Nhưng mỗi
lần đi qua con phố ấy, mảnh đất ấy, tôi cũng không khỏi
ngậm ngùi trước lẽ vô thường, trước sự biến thiên của
lịch sử. Đất còn đó, Thăng Long còn đó mà Chùa, Tháp đâu
còn. Thậm chí một phần trên mảnh đất ấy hiện diện nhà
thờ Lớn của quý vị. Và tôi càng không biết phải nói thế
nào khi chính trên mảnh đất ấy mới đây thôi, đồng bào
Công giáo đã đem tượng Đức Mẹ đến, đặt hoa, thắp nến,
cầu nguyện, gây áp lực để đòi đất về cho mình.
Nhiều lần
tôi thầm ước, trên mảnh đất thiêng của Thăng Long ấy,
người Hà Nội hôm nay sẽ phục dựng lại chùa Báo Thiên,
tháp Báo Thiên để tìm về cội nguồn, khơi dòng tâm linh,
phát huy truyền thống. Tôi sẽ thấy cả chùa, tháp Báo Thiên
và nhà thờ Lớn cùng tồn tại như một biểu tượng về
sự gắn kết và hòa hợp dân tộc, bởi vì dù là người
Phật tử hay người Công giáo, cũng đều là người Việt
Nam, vì dân tộc Việt Nam. Tôi đã từng ước mong đồng bào
Công giáo sẽ đề nghị Nhà nước cấp một phần mảnh đất
“Tòa khâm sứ” phục dựng lại chùa, tháp Báo Thiên,
như một hành động tôn vinh công lý và hòa bình.
Tôi thấy
quý vị nói nhiều về công lý trên các website Ki-tô giáo,
thậm chí còn gây sức ép với Nhà nước bằng cách kiến
nghị các nghị sĩ Mỹ can thiệp. Nếu thực sự vì công lý
và hòa bình, chắc hẳn người Pháp đã không xâm lược và
đô hộ nước ta. Nếu thực sự vì công lý và hòa bình, hẳn
là đồng bào Công giáo đã không xây nhà thờ trên chính những
mảnh đất có những ngôi chùa cổ kính, lâu đời. Nếu vì
công lý và hòa bình, hẳn là một bộ phận đồng bào Công
giáo đã không tiếp tay cho người Pháp thống trị dân tộc
Việt Nam...
Nếu thực
sự tôn trọng công lý, hẳn là quý vị đồng đào Công giáo
đã không đòi đất “Tòa khâm sứ”, bởi vì trên phương
diện lịch sử hay pháp luật hiện tại, mảnh đất đó không
phải của riêng Phật giáo, Công giáo, hay của Nhà nước.
Mảnh đất đó là máu, là xương mà cha ông (chứ không phải
Chúa trời) đã đổ xuống để vun đắp, giữ gìn, mảnh đất
đó là của Tổ quốc, của Nhân dân Việt Nam.
Tôi, một
người Phật tử cũng như hầu hết những người Phật tử
Việt Nam khác lên tiếng không phải để đòi, để tranh giành
hay bênh vực, bảo vệ ai. Phật giáo chưa bao giờ có ý định
đòi lại mảnh đất đó về mình. Phật giáo Việt Nam cũng
không nhìn lịch sử mất mát và đau thương của bao nhiêu
đất chùa biến thành đất nhà thờ như một mối hận thù
hay nguồn gốc của chia rẽ. Nhưng sự thực lịch sử và pháp
luật cần được tôn trọng. Nếu trong quá khứ đô hộ của
thực dân xâm lược đã không có công lý, thì nay công lý
cần được quý vị đồng bào Công giáo thừa nhận và tôn
trọng.
Để kết
thúc bức tâm thư này, một lần nữa tôi muốn chia sẻ với
quý vị đồng bào Công giáo rằng mảnh đất “Tòa khâm sứ”
cũng là biểu tượng, là di sản, là truyền thống của Dân
tộc và Phật giáo. Hy vọng rằng ước mong của tôi ở trên,
cũng như của quý vị đồng bào Công giáo sẽ cùng trở thành
hiện thực. Đó mới thực sự là công lý và hòa bình. Hãy
sống vì điều thiêng liêng nhất: sự trường tồn của dân
tộc Việt Nam.
Kính chúc
quý vị đồng bào Công giáo luôn “sống phúc âm trong lòng
dân tộc”, “kính Chúa, yêu nước”.
Phật tử
Tâm Minh - Nguyễn Quốc Dũng
http://www.phattuvietnam.net/index.php?nv=News&at=article&sid=2868
01-18-2008
11:23:46