ÔNG VÕ VĂN ÁI ĐÃ
SỬ DỤNG THỦ THUẬT CHÍNH TRỊ VÀ THẾ TỤC HÓA PHẬT PHÁP
NHƯ THẾ NÀO
TRONG SINH HOẠT CỦA
GHPGVNTN
______________________________________________________________________
Suốt mấy
tháng qua, biến cố Giáo Chỉ số 9 của Viện Tăng Thống,
Thông Bạch hướng dẫn thi hành Giáo chỉ số 9 của Viện
Hóa Đạo và Bản Phúc trình Phật sự của Hòa Thượng Chánh
Thư Ký Viện Tăng Thống GHPGVNTN đã gây hoang mang, nghi ngờ,
phân hóa và đổ nát cho GHPGVNTN nói riêng và cộng đồng Phật
Giáo Việt Nam hải ngoại nói chung! Nhiều người, dù
là những Phật tử thuần thành, nhưng vì không thường xuyên
hoặc không hề tham gia sinh hoạt trong các tổ chức Phật Giáo
đã không nắm vững tình hình, không hiểu rõ các việc nội
bộ, do đó chỉ nhìn và nhận định vụ việc xảy ra trong
Phật Giáo bằng nhận thức không toàn diện mà chỉ đứng
ở vị thế của người bàng quan. Đứng ở vị thế
bàng quan, người nhìn có thể quan sát sự việc một cách
khách quan và bao quát, nhưng cũng có thể vì vậy đã không
hiểu được tường tận, chi tiết và sâu xa từ ngọn nguồn
vấn đề. Trong ý hướng góp phần soi sáng vấn đề,
bài viết này sẽ nêu ra một số sự kiện cụ thể dựa trên
những thông tin trung thực và khả tín.
Điều hiển
nhiên mà mọi người đều chứng thực đó là sau khi Giáo
Chỉ số 9 của Viện Tăng Thống và Thông Bạch hướng dẫn
thi hành Giáo Chỉ số 9 của Viện Hóa Đạo công bố vào giữa
và cuối tháng 9 năm 2007 đã tạo ra tình trạng khủng hoảng,
phân hóa và tan rã trong đại khối Phật Giáo Việt Nam và
các GHPGVNTNHN tại các châu lục ở hải ngoại. Vì vậy,
câu hỏi mà mọi người đều quan tâm muốn biết là tại
sao lại xảy ra thảm trạng như thế đối với GHPGVNTN?
Câu trả lời cũng đã được nhiều chư tôn đức giáo phẩm
trong GHPGVNTNHN tại Hoa Kỳ và một số cư sĩ Phật tử hải
ngoại trình bày trong nhiều văn thư và bài viết suốt mấy
tháng qua. Qua đó, cho thấy nguyên do chính là vì một vài cá
nhân tăng sĩ và cư sĩ đã sử dụng thủ thuật chính trị
để “thanh trừng” những thành phần Tăng, Ni và cư sĩ trong
GHPGVNTNHN tại Hoa Kỳ, Âu Châu, Úc Châu và Canada không tín
nhiệm ho, vì những hành vi làm hoen ố và thao túng GH.
Để thực hiện âm mưu nhằm củng cố địa vị và quyền
lực của họ, những vị này đã dựa vào hai yếu tố để
điều hướng công luận, đó là tinh thần chống cộng của
người Việt tỵ nạn và niềm tin của quần chúng Phật tử
đối với nhị vị đại lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang
và Thích Quảng Độ.
Thứ nhất,
về mặt tinh thần chống cộng, họ biết cộng đồng người
Việt tỵ nạn ở hải ngoại là một tập thể chống cộng
rất quyết liệt. Vì vậy, một vài vị có âm mưu thao
túng GH đã mở chiến dịch xuyên tạc, vu khống, chụp mũ
cộng sản cho nhiều Tăng, Ni và cư sĩ Phật tử đã và đang
sinh hoạt trong các GHPGVNTN trong và ngoài nước. Mục đích
của chiến dịch trên là nhằm tung hỏa mù để gây hoang mang,
ngờ vực và bôi đỏ chư tôn đức Tăng, Ni và cư sĩ không
tín nhiệm họ. Hành động ác tâm và đen tối trên là
để làm cho quần chúng trong cộng đồng người Việt tỵ
nạn nhất thời ngộ nhận lập trường và tâm nguyện trước
sau như một của chư tôn đức Tăng, Ni và cư sĩ đối với
công cuộc vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền và phục
hoạt GHPGVNTN. Họ còn lợi dụng tác động phá hoại
cộng đồng người Việt tỵ nạn của nghị quyết 36 của
chính quyền cộng sản Việt Nam để lạc dẫn dư luận hướng
đến việc buộc tội chư tôn đức Tăng, Ni và cư sĩ Phật
tử không tín nhiệm họ, rằng đây là thành phần đầu hàng,
hòa hợp hòa giải, tiếp tay với cộng sản để nhuộm đỏ
Phật Giáo và triệt tiêu GHPGVNTN trong và ngoài nước!
Thứ hai,
về mặt niềm tin, họ lấy nhị vị Đại Lão Hòa Thượng
Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ làm chỗ dựa cho niềm
tin của quần chúng Phật tử đối với những gì họ làm.
Qua đó, những gì được nhị vị Đại lão Hòa Thượng lãnh
đạo GHTN đồng thuận thì đương nhiên là khả tín và chính
nghĩa. Dựa vào yếu tố niềm tin trên, Giáo Chỉ số
9 và Thông Bạch hướng dẫn thi hành Giáo Chỉ số 9 vì được
ấn ký bởi nhị vị đại lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang
và Thích Quảng Độ cho nên, không thể sai. Cũng vì vậy,
những ai không “khâm tuân” theo hai văn bản đó đều bị
kết tội là thành phần chống đối, ly khai, âm mưu tiêu diệt
GHPGVNTN, có ý đồ hòa hợp hòa giải với cộng sản, v.v…!
Nhìn từ
bên ngoài, người ta khó có thể không tin vào hai yếu tố
mà họ đã dựa vào. Đây chính là vấn đề cần viện
dẫn đến sự hiểu biết tường tận đối với nội tình
sinh hoạt của GHPGVNTN trong và ngoài nước. Và vì là
vấn đề nội tình sinh hoạt trong GHTN mà hầu hết Tăng, Ni
và Phật tử có tham gia trực tiếp trong các GHTN tại hải
ngoại đã không thể công khai hóa mọi việc để quần chúng
Phật tử bên ngoài có thể hiểu rõ. Cho nên, vẫn còn
có những ngộ nhận, hoang mang và một số người chủ tâm
sử dụng thủ thuật chính trị và phi chánh pháp đã có thể
tiếp tục xuyên tạc sự thật, vu khống và chụp mũ.
Tuy nhiên, nếu bình tâm và khách quan quán chiếu, người ta
vẫn có thể nhìn thấy rằng hai yếu tố mà một số người
mưu đồ đen tối sử dụng đã không hoàn toàn đúng như vậy.
Tại sao?
Về mặt
tinh thần chống cộng của cộng đồng người Việt tỵ nạn
hải ngoại, điều này là một sự thật không ai phủ nhận,
nhưng cộng đồng người Việt tỵ nạn ở hải ngoại vốn
có đủ nhận thức để thấy rằng, cộng sản dù gian xảo
đến cách mấy cũng không thể nào cùng lúc lũng đoạn, mua
chuộc, và làm “biến tướng” cả một tập thể Tăng, Ni
và Phật tử trong các GHPGVNTN tại hải ngoại với số lượng
hàng mấy trăm vị mà từ mấy thập niên qua vẫn một lòng
một dạ giữ vững lập trường đấu tranh cho tự do, dân
chủ, nhân quyền và phục hoạt GHPGVNTN trong nước. Đừng
bao giờ thần thánh hóa thủ đoạn của cộng sản mà chà
đạp lên kiến thức, lập trường và tâm nguyện của bao
nhiêu Tăng, Ni và Phật tử vốn đã từng kinh lịch gian truân
dưới chế độ cộng sản rồi bỏ nước ra đi tìm tự do
suốt trên ba chục năm qua như thế!
Về mặt
niềm tin, cần phân biệt rõ hai sự kiện khác nhau đó là
sự tín nhiệm và tôn kính không thay đổi của tập thể Tăng,
Ni và Phật tử hải ngoại đối với lý tưởng phụng sự
đạo pháp và dân tộc của GHPGVNTN và đối với nhị vị
đại lão Hòa Thượng lãnh đạo GHTN trong nước, với việc
không tán đồng đối với Giáo Chỉ và Thông Bạch vì hệ
quả tai hại nghiêm trọng của hai văn bản đó. Nhị
vị đại lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng
Độ vì bị quản chế tại Tu Viện Nguyên Thiều ở Bình Định
và tại Thanh Minh Thiền Viện ở Sài Gòn, thật khó có thể
hiểu hết được tất cả những vấn đề sinh hoạt của
GHPGVNTNHN tại các châu lục cũng như những vấn đề của
từng cá nhân chư tôn đức Tăng, Ni và Phật tử trong các
GH ấy. Nhị vị đại lão Hòa Thượng Thích Huyền
Quang và Thích Quảng Độ làm sao có thể biết được rõ con
người của Hòa Thượng Chánh Lạc để mời vào Hội Đồng
Giáo Phẩm Trung Ương và Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo;
nhị vị đại lão Hòa Thượng cũng làm sao biết được Hòa
Thượng Trí Minh ở Na Uy, Thượng Tọa Thiện Tâm ở Canada
là như thế nào để mời vào chức Tổng Ủy Viên liên lạc
trong Văn Phòng II mới; nhị vị đại lão Hòa Thượng
là sao biết được tất cả chư tôn đức Tăng, Ni và Phật
tử đã và đang sinh hoạt trong GHPGVNTNHN tại các châu lục
mà buộc tội là “phần tử cơ hội, tiếp tay gây phân hóa,
tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đường hướng sinh
hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói
của Giáo Hội trên địa bàn quốc tế”?
Vậy thì
vấn đề là, ai là người thường xuyên liên lạc với nhị
vị đại lão Hòa Thượng lãnh đạo GHPGVNTN trong nước để
tường trình các sự kiện liên quan đến nhân sự và tổ
chức của các GHTN tại hải ngoại, cũng như đạo đạt ý
chỉ của nhị vị đại lão Hòa Thượng lãnh đạo GHTN trong
nước cho các GHTN tại hải ngoại?
Đối với
chư tôn đức Tăng, Ni và Phật tử sinh hoạt trong các GHTN
hải ngoại, thì người đó không ai khác hơn là ông Võ Văn
Ái, Phát Ngôn Nhân Viện Hóa Đạo kiêm Giám Đốc Phòng Thông
Tin Phật Giáo Quốc Tế có trụ sở tại Paris, Pháp Quốc.
Chính vì lý do đó, khi hiểu được con người của ông VVA
thì hiểu được những gì ông đã thưa trình với nhị vị
đại lão Hòa Thượng lãnh đạo GHTN trong nước về tình hình
và nhân sự tại hải ngoại, cũng như những gì ông muốn
nhị vị đại lão Hòa Thượng làm cho tổ chức và nhân sự
của các GHPGVNTNHN tại các châu lục ở hải ngoại, mà Giáo
Chỉ số 9 và Thông Bạch hướng dẫn thi hành Giáo Chỉ số
9 là những biểu hiện cụ thể.
Tại sao ông
VVA lại được chư Tôn Đức Giáo Phẩm GHTN, đặc biệt đại
lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ tin tưởng đến như vậy?
Câu trả
lời là vì ông VVA đã có công trong việc vận động các quốc
hội Âu châu, Hoa Kỳ, các chính phủ tự do trên thế giới,
các tổ chức nhân quyền, các chính khách để hậu thuẫn
cho GHPGVNTN. Ông VVA cũng là người đã có công vận động
cho đại lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ nhận lãnh giải
RAFTO của Na Uy trong năm 2006. Và ông VVA cũng là người
đã và đang vận động để đề cử đại lão Hòa Thượng
Thích Quảng Độ cho giải Nobel Hòa Bình.
Nhưng, đối
với công cuộc vận động phục hoạt GHPGVNTN thì những vận
động quốc tế bên ngoài đó chỉ là trợ duyên mà không
phải là chánh nhân. Chánh nhân chính là nội lực, là
sức mạnh tự thân của GHTN thông qua sự thanh tịnh hòa hợp
và đoàn kết của đại khối Tăng, Ni và Phật tử trong và
ngoài nước đối với công cuộc vận động này. Ở
phần xây dựng chánh nhân đó, ông VVA là người đi ngược
lại, hay nói cụ thể là người phá hoại!
Tại sao ông
VVA là người phá hoại chính nhân của công cuộc vận động
phục hoạt GHPGVNTN? Tại sao ông VVA là người phá hoại
sức mạnh hòa hợp của Tăng, Ni và Phật tử cho công cuộc
vận động phục hoạt GHPGVNTN?
Muốn có
câu trả lời minh bạch về vấn nạn đó, chúng ta cần tìm
hiều ông VVA thật sự là người thế nào khi ông hành xử
trong vai trò và trách nhiệm của một Phát Ngôn Nhân Viện
Hóa Đạo, Giám Đốc Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế (PTTPGQT),
Tổng Ủy Viên Ngoại Vụ Văn Phòng II VHĐ, Tổng Vụ Trưởng
Tổng Vụ Ngoại Vụ GHPGVNTNHN-HK.
Năm 1976,
ông VVA đã cho ra đời tạp chí Quê Mẹ tại Paris, trong số
báo đầu tiên này, ông VVA đã đăng nhiều bài ca tụng nền
hòa bình và thống nhất mà cộng sản vừa thiết lập tại
Việt Nam. Điều này đã được nhà phê bình văn học
Thụy Khuê đề cập đến như sau:
“Báo Quê
Mẹ ở Paris, số đầu, bài vở chuyên về văn học nghệ thuật
trong chiều hướng chào mừng hòa bình và thống nhất đất
nước.”
(Thụy Khuê,
Thử Tìm Một Lối Tiếp Cận Văn Sử Học Về Hai Mươi Nhăm
Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại 1975-2000. Tạp chí Hợp
Lưu, số 88, tháng 4 & 5 năm 2006.)
Điều đó
không lạ, bởi vì trước năm 1975, tại hải ngoại, ông VVA
là một trong những tri thức Phật Giáo tích cực vận động
cho hòa bình Việt Nam, mà một số người hay gọi một cách
không thiện cảm là phản chiến. Nhưng điều lạ là,
ít nhất hơn nửa năm sau khi cộng sản xâm chiếm miền Nam
và chế độ này đã áp dụng chính sách thù nghịch đối
với dân tộc, đặc biệt nhân dân miền Nam. Vậy mà
ông VVA cũng còn tán tụng nền hòa bình và thống nhất do
cộng sản thiết đặt trên xương máu và khổ đau của biết
bao nhiêu người!
Trong Đại
Hội Bất Thường của GHPGVNTNHN-HK tổ chức tại Chùa Diệu
Pháp vào ngày 16 tháng 3 năm 2006, ông VVA đã từng tuyên bố
và kết tội một số tập thể, trong đó có Tăng Ni Hải Ngoại,
rằng họ “đã giết chết sự nghiệp chính trị” của ông.
Trong bài
“Phật Giáo Thời Cộng Sản và Những Liên Hệ Gây Động
Loạn và Mâu Thuẫn” đăng trên www.queme.net, ông VVA đã mượn
lời Kinh để phát biểu cho lập trường dấn thân chính trị
của ông như sau: “Câu thứ ba là, ‘Bồ tát thấy dân
kêu ca, liền gạt lệ xông vào nơi chính trường hà khắc
để cứu dân khỏi nạn lầm than.’ Đây là dấn thân
chính trị của người Phật tử.”
Trong bài:
“Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin trả lời chung về
một số thắc mắc sau khi Giáo chỉ số 9 của Đức Đệ tứ
Tăng thống Thích Huyền Quang ban hành - Bản Phúc trình Phật
sự của Hòa thượng Thích Thiện Hạnh gửi từ Huế nói về
nhóm Thân hữu Già Lam, ngày 11 tháng 02 năm 2007”, Ông
VVA đã phát biểu trong cung cách của nhà chính trị sắt máu
như sau:
“Mặt khác,
Giáo chỉ trong một tôn giáo tương đương với một Đạo
luật, Sắc luật trong một quốc gia. Khi đạo luật ban ra,
người công dân phải tuân thủ. Như đạo luật thiết quân
luật trong thời chiến, dù người dân không ưa cũng phải
tuân hành. Không tuân hành quân đội sẽ bắn chết.”
Trong bài
thuyết trình (có tiêu đề: Giáo Chỉ số 9, từ hợp pháp
đến khế cơ) tại Đại Hội Bất Thường của GHPGVNTNHN-HK
tổ chức tại Chùa Bửu Môn, thành phố Port Arthur, Texas, ngày
10 tháng 11 năm 2007, ông VVA đã dùng thủ thuật sách động
quần chúng của một nhà chính trị để hướng dẫn đại
biểu đi theo luận điểm không hợp lý như sau:
“Để minh
bạch vấn đề, cho phép tôi hỏi quý Đại biểu : GHPGVNTN
có là Giáo hội lịch sử và dân lập không ? Xin quý Đại
biểu hoan hỉ trả lời. (toàn thể đại hội đã đồng thanh
đáp lớn : Có !)”
“GHPGVNTN
có là Giáo hội hợp pháp và hợp hiến không ? Xin quý Đại
biểu hoan hỉ trả lời. (toàn thể đại hội đã đồng thanh
đáp lớn : Có !)”
“Quý Đại
biểu đã trả lời CÓ một cách đoan quyết. Vậy thì tôi
tuyên bố Giáo chỉ số 9 của Đức Tăng thống Thích Huyền
Quang và Thông bạch hướng dẫn thi hành Giáo chỉ của Hòa
thượng Thích Quảng Độ ban hành ngày 8.9 và 25.9 vừa qua là
hợp pháp và hợp Hiến chương.”
Chuyện “GHPGVNTN
có là Giáo hội lịch sử và dân lập” hay “GHPGVNTN có là
Giáo hội hợp pháp và hợp hiến” có liên quan gì với việc
Giáo Chỉ và Thông Bạch là hợp pháp và hợp Hiến chương?
Có ai là thành viên của GHPGVNTN trong và ngoài nước mà không
công nhận GHPGVNTN là Giáo hội lịch sử, dân lập, hợp pháp
và hợp hiến? Các thành viên của GHPGVNTN hải ngoại
không đặt vấn đề của GHTN, họ chỉ đặt vấn đề với
Giáo Chỉ số 9 và Thông Bạch hướng dẫn thi hành Giáo Chỉ
số 9 mà thôi, vì hai văn bản đó sau khi công bố đã tạo
ra cơn khủng hoảng sâu nặng đối với cộng đồng Phật
Giáo Việt Nam tại hải ngoại.
Như vậy,
ông VVA không phải là một cư sĩ Phật tử đã và đang thực
hành Phật sự trong GHTN, mà ông đang làm chính trị, ông đã
và đang hành xử trong cung cách của môt người làm chính trị
trong sinh hoạt của GHPGVNTN.
Điều này
đã được quý Hòa Thượng nói đến trong bài viết “Giáo
Chỉ, Thông Bạch và Cơn Khủng Hoảng của Phật Giáo Việt
Nam tại Hải Ngoại” của 8 vị Hòa Thượng. Trong
đó quý Hòa Thượng có nói rằng ông VVA đã nhận tiền của
tổ chức NED (National Endowment for Democracy, http://www.ned.org ).
NED bề ngoài là một tổ chức phi chính phủ, được Quốc
Hội Hoa Kỳ tài trợ để hỗ trợ tiến trình dân chủ hóa
khắp nơi trên thế giới, nhưng thực chất là thực hiện
những công tác tình báo và chính trị vì quyền lợi của
Hoa Kỳ. Ông VVA nhận tiền của tổ chức NED thì tất nhiên
ông phải làm việc theo đường hướng của họ, vì họ là
chủ và ông là người làm. Có điều cần phải
quan tâm đặc biệt là ông VVA đã đảm nhận mấy chức vụ
trọng yếu của GHTN trong và ngoài nước, nhưng đồng thời
ông cũng lại nhận tiền từ một tổ chức chính trị của
Mỹ thì đó là điều không thể chấp nhận được. Một
bên là tổ chức chính trị thế gian, một bên là tổ chức
Phật Giáo không chủ trương làm chính trị. Ông VVA đứng
ở đâu trong những lúc cần xác định vai trò và chức năng
của ông? Trước quyền lợi của NED và quyền lợi của
đạo Pháp và dân tộc, ông VVA phục vụ cho quyền lợi nào
và NED có để cho ông VVA tự do chọn lựa quyền lợi không?
Xin nêu ra
thêm một vài sự kiện để cho thấy chủ tâm sử dụng thủ
thuật chính trị trong sinh hoạt GHTN của ông VVA. Trong
Đại Hội Khoáng Đại kỳ II của GHPGVNTNHN-HK, năm 2000, tổ
chức tại Chùa Cổ Lâm, thành phố Seattle, bang Washington, ông
VVA là người đưa ra Giáo Chỉ của GHTN trong nước lưu nhiệm
toàn bộ nhân sự trong GHTNHN-HK, mà trước đó chư tôn đức
Tăng, Ni và Phật tử tham dự trong Đại Hội đều không ai
hay biết gì. Trong Đại Hội Khoáng Đại kỳ III của
GHPGVNTNHN-HK, năm 2004, tổ chức tại Chùa Diệu Pháp, thành
phố San Gabriel, bang California, ông VVA cũng là người đưa ra
Giáo Chỉ của GHTN trong nước lưu nhiệm toàn bộ nhân sự
của GHTNHN-HK lần nữa. Suốt trong mấy ngày Đại Hội
Khoáng Đại từ thứ Năm, thứ Sáu cho đến sáng thứ Bảy,
trong lễ Khai mạc Đại Hội mới công bố Giáo Chỉ lưu nhiệm,
tất cả chư tôn đức Tăng, Ni đều không ai nghe nói, hay được
hỏi ý kiến gì về Giáo Chỉ lưu nhiệm cả. Vậy mà
trong lễ Khai mạc thì Giáo Chỉ lưu nhiệm đã được công
bố. Toàn thể Tăng, Ni và Phật tử tham dự Đại Hội
Khoáng Đại đều hoang mang, ngơ ngát, không hiểu vì đâu lại
có Giáo Chỉ! Không lẽ nhị vị đại lão Hòa Thượng
Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ cứ mỗi lần có Đại
Hội Khoáng Đại của GHTNHN-HK thì đều tự động viết và
ban hành Giáo Chỉ lưu nhiệm, bất chấp đến suy nghĩ của
Tăng, Ni và Phật tử trong GHTN ở Hoa Kỳ? Điều ấy chắc
chắn là không! Thực tế trong nội tình của GHPGVNTNHN-HK
cũng không một vị Tăng, Ni và cư sĩ nào thấy là cần phải
có Giáo Chỉ lưu nhiệm. Trước khi có Giáo Chỉ chấn
chỉnh và bổ sung nhân sự của Viện Hóa Đạo GHPGVNTN trong
nước vào tháng 11 năm 2005, tại hải ngoại đã có những
tuyên truyền, công bố (trên báo Văn Hóa tại Nam California)
vu khống và chụp mũ Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ và một số
Thượng Tọa trong Viện Hóa Đạo là thay đổi lập trường,
muốn thỏa hiệp với cộng sản để lập GHTN không Huyền
Quang, không Quảng Độ, kể cả việc bôi nhọ đời tư của
chư vị Thượng Tọa nói trên nữa. Cũng giống như vậy,
trước khi có Giáo Chỉ số 9 giải tán Văn Phòng II cũ để
thành lập Văn Phòng II mới (gồm 14 vị cho cả hải ngoại),
và Thông Bạch hướng dẫn thi hành Giáo Chỉ số 9 tuyên bố
giải tán các GHPGVNTNHN tại Hoa Kỳ, Úc Châu, Âu Châu và Canada,
thì đã có những bài viết đăng trên trang web Tinparis mở
chiến dịch vu khống, chụp mũ, mạ lị và buộc tội không
bằng chứng nhiều chư tôn đức Tăng, Ni và một số cư sĩ
Phật tử đã hoặc đang sinh hoạt trong các GHPGVNTN trong và
ngoài nước. Cho đến khi Giáo Chỉ số 9 và Thông Bạch
hướng dẫn thi hành Giáo Chỉ số 9 được công bố, tất
cả chư tôn đức giáo phẩm trong các Hội Đồng của GHTN
ở hải ngoại đều không ai hay biết gì!
Trong các
Thông Cáo Báo Chí của ông VVA gọi đó là việc “thanh
trừng” nội bộ. Việc làm như vậy nếu không phải
là thủ thuật chính trị thế tục thì còn là gì? Tại
sao lại đem những thủ thuật chính trị thế gian vào thực
hiện trong GHTN, trong sinh hoạt Phật Giáo vốn nhắm đến mục
tiêu thực nghiệm và hoằng dương Chánh pháp để giải khổ
cho mình và người? Đem việc chính trị vào trong sinh
hoạt Phật Giáo là thế tục hóa, là tạo mầm móng bất an,
là “biến tướng” con đường cao rộng mà đức Phật và
chư tổ đã dày công truyền thừa!
Ông
VVA nếu muốn làm chính trị thì hãy ở ngoài thế gian mà
làm, vì không ai cấm cản người Phật tử làm chính trị
để góp phần xây dựng và phát triển đất nước và xã
hội. Không những thế, chư Tăng, Ni và quần chúng Phật
tử còn khuyếtn khích, cổ động và ủng hộ cho những cư
sĩ Phật tử phát nguyện lăn xả vào thế gian, gánh vác trọng
trách ở xã hội để cứu giúp người dân. Nhưng, ông
VVA tuyệt đối không thể lợi dụng vị thế và uy tín của
GHTN cho con đường và sự nghiệp chính trị của ông.
Ông không thể sử dụng các thủ thuật chính trị trong sinh
hoạt Phật Giáo nói chung và GHPGVNTN nói riêng.
Nếu là một
cư sĩ Phật tử biết kính trọng Tam Bảo, biết sống và thực
nghiệm chánh pháp, ông VVA đã không dùng lời lẽ thô tục
để phỉ báng chư Tăng. Chứng cứ ở đâu để nói như
vậy? Tôi xin trích ra đây email của ông VVA đã được
phổ biến rộng rãi vào ngày 26 tháng 01 năm 2008 vừa rồi,
mà một người bạn của tôi đã gửi cho tôi đọc. Nội
dung email đó như sau:
From: "IBIB"
<ubcv.ibib@buddhist.com>
To: "IBIB"
<ubcv.ibib@buddhist.com>
Subject: Fw:
ngao ngan cho cho nhung nguoi viet bai bao nay
Date: Sat,
26 Jan 2008 11:27:55 +0100
Kinh xin bao
dong den quy Thay : Bao ve Chanh Phap la dia chi Uc cua hai ngai Thich
Nguyen Tang va Thich Giac Tin. Khong thay cac vi nay chuyen tai cac bai
viet benh vuc GHPGVNTN trong nhung ngay bi cac phe phai phi dan toc tan
cong. Ma chi thay dang tai nhung bai vo thuong vo phat ngoai doi, hoac
cac bai cua Nhom Ve Nguon Mac-Le-Ho. Va hom nay, 26.1.2008, lai dua len
Internet mot bai cua Bao Cong An viet ngay 27.8.2007 de phi bang va ma
ly Dai lao Hoa thuong Thioch Quang Do. Mot cach "an com moi noi chuyen
cu" rat tham doc va xo? la' !
Nhu vay la
co y gi ? - Hoi tuc da tra loi.
PTTPGQT”
Hai ngày sau,
tức ngày 28 tháng 01 năm 2008, Đại Đức Thích Nguyên Tạng
đã lên tiếng về sự chụp mũ và mạ lị này trong một email
như sau:
“Kinh bac
Ngo Trong Anh va PTTPGQT,
Toi xin minh
dinh voi hai vi chung toi chi phu trach trang nha www.quangduc.com ma thoi,
con dien dan BAO VE CHANH PHAP cua ai thanh lap va pho bien tai lieu gi,
chung toi khong he biet, ai phu trach dien dan BAO VE CHANH PHAP, xin hay
len tieng de dien dan duoc ro & tranh bi chup mu lan nhau nua. Lan
sau, xin quy vi can than kiem tra lai truoc khi dua tin sai nhu the.
Kinh,
Ven. Thich
Nguyen Tang
Quang Duc
Buddhist Monastery
105 Lynch
Road
Fawkner, VIC
3060. Australia”
Trong email
trên của PTTPGQT, ông VVA đã sử dụng mấy từ ngữ “Nhóm
Về Nguồn Mac-Le-Ho”, “Một cách ‘ăn cơm mới nói chuyện
cũ’ rất thâm độc và xỏ lá!” Trong bài “Phật Giáo
Thời Cộng Sản và Những Liên Hệ Gây Động Loạn và Mâu
Thuẫn” đăng trên trang web: www.queme.net, ông VVA đã dùng những
từ ngữ, những câu như sau để mạ lị chư Tăng: “Các
nhà sư và cư sĩ rối nước”, “hành tích đi đêm ăn vụng”,
“gian hàng biến thành chùa viện”, “bọn này”, “bầy
lâu la”, “đểu cáng”, v.v…
Một cư sĩ
mà dùng chữ nghĩa như trên để nói về chư Tăng! Một
cư sĩ mà gọi cộng đồng Tăng Ni gồm 96 vị trong Ngày Về
Nguồn là “Mac-Le-Ho”! Trong lịch sử Phật Giáo Việt
Nam, chỉ trừ những người mượn danh Phật tử để mưu quyền
đoạt lợi, còn những Phật tử chân chánh có tín tâm với
Tam Bảo, thì chưa bao giờ có ai dùng chữ nghĩa sặc mùi thế
tục như vậy để nói về chư Tăng! Ông VVA là Phát
Ngôn Nhân của Viện Hóa Đạo, là Giám Đốc Phòng Thông Tin
Phật Giáo Quốc Tế, là người thay mặt chư tôn túc trưởng
lão Hòa Thượng lãnh đạo GHTN trong nước để phát ngôn.
Vậy mà ông VVA đã phát ngôn như thế! Làm như vậy là
tạo uy tín cho GHTN, là thắp sáng oai đức của quý đại lão
Hòa Thượng lãnh đạo GHTN hay sao? Trên thế gian này, những
người con Phật biết suy nghĩ, tự trọng và tôn quý Tam Bảo
thì chắc chắn không ai làm vậy cả!
Cũng trong
bài “Phật Giáo Thời Cộng Sản và Những Liên Hệ Gây Động
Loạn và Mâu Thuẫn”, ông VVA đã định nghĩa Tăng và tục
như sau:
“Cần phân
rõ hai phạm trù Tăng và Tục này. Đồng lõa với Cộng
sản để hủy diệt Phật Giáo, Tăng trở thành tục.
Bảo vệ giáo lý cứu khổ và giác ngộ, tục trở thành Tăng.”
Suốt quá
trình lịch sử tồn tại của đạo Phật trên hai mươi lăm
thế kỷ nay và trong ba tạng Kinh-Luật-Luận, từ bao giờ đã
có định nghĩa Tăng và Tục như vậy? Như thế thì cần
gì phải cắt ái từ thân, phát tâm xuất gia (xuất thế tục,
xuất phiền não, xuất tam giới), cần gì phải chế ra quy
tắc thọ trì Sa di, Sa di ni, Thức xoa ma na, Tỳ kheo và Tỳ
kheo ni giới cho những vị xuất gia, bởi vì chỉ cần làm
theo định nghĩa của ông VVA ở trên là đủ tiêu chuẩn để
trở thành vị Tăng rồi! Như vậy thì những phẩm tính
thanh tịnh, phạm hạnh, giới đức, từ bi và trí tuệ của
vị Tăng để đâu? “Đồng lõa với Cộng sản để
hủy diệt Phật Giáo” là một điều không thể chấp nhận
và đáng lên án. Cũng như “Bảo vệ giáo lý cứu khổ
và giác ngộ” là đều đáng tán dương và cần phải làm.
Nhưng, bảo rằng lấy đó để “phân rõ hai phạm trù Tăng
và tục” là một điều sai giới luật, sai chánh pháp!
Thật đúng như tựa đề của bài đăng trên trang nhà Quê
Mẹ: “Phật Giáo thời cộng sản và liên hệ động
loạn và mâu thuẫn.” Định nghĩa Tăng và tục như ông
VVA không phải là “động loạn” hay sao?
Cũng trong
bài “Phật Giáo Thời Cộng Sản và Những Liên Hệ Gây Động
Loạn và Mâu Thuẫn”, ông VVA đã viết: “Đạo Phật
quan niệm thế giới là một màng lưới tương quan tương sinh.”
Dựa vào giáo lý tương quan tương sinh này, ông VVA đã đưa
ra 4 mối liên hệ: Liên hệ chính trị (của chư Hòa Thượng
Trí Thủ, Minh Châu, Trí Tịnh, Thiện Siêu), liên hệ giáo phái
(của sư ông Nhất Hạnh), liên hệ học thuật (của giáo sư
Lê Mạnh Thát và Thượng Tọa Tuệ Sỹ) và liên hệ chúng
sinh (của nhị vị Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng
Độ). Ba mối liên hệ đầu, ông VVA gọi đó là những
“mối liên với Đảng Cộng Sản”, cho nên là “phản động
lịch sử đưa tới động loạn và mâu thuẫn.” Còn
mối liên hệ thứ tư, ông VVA gọi là “tiến trình lịch
sử đưa con người vào qũy đạo thăng hoa.”
Ông VVA chỉ
trích dẫn giáo pháp “tương quan tương sinh” của đạo Phật
như một cái máy hay như cái nhìn một chiều của nhà chính
trị mà không thâm nhập được vào nội dung thâm thúy của
giáo pháp ấy. Ông biết nói rằng “thế giới là một
màng lưới tương quan tương sinh”, nhưng tại sao ông chỉ
phân ranh và đóng khung mối liên hệ của Phật Giáo Việt
Nam trong 4 phạm trù liên hệ đóng kín như vậy? Đã là
“tương quan tương sinh”, trong ý nghĩa duyên khởi hay duyên
sinh, thì tất cả mọi pháp trong vũ trụ pháp giới, chứ không
phải chỉ giới hạn trong thế giới này hay trong một số
phạm trù tĩnh chết nào đó, đều tương quan, tương duyên,
tương tức, tương nhập, tương sinh, tương diệt chặt chẽ
với nhau. Mối tương quan tương duyên ấy phổ biến khắp
tất cả pháp mà không có ngoại lệ nào, không thể bị đóng
khung trong phạm trù hạn cục của thời gian hay không gian,
không thể cắn xén mối tương quan tương sinh toàn diện của
vạn pháp ra thành từng mảnh vụn, rồi định danh và diễn
dịch theo tư kiến, thiên kiến, chủ kiến của cá nhân.
Như vậy,
không thể dựa vào ý nghĩa tương quan tương duyên toàn diện
để lý luận cục bộ rằng, chỉ có mối liên hệ của cái
này với cái kia duy nhất mà không có liên hệ với những
cái khác. Điều ấy có nghĩa là không thể nói, như ông
VVA, rằng quý Hòa Thượng Trí Thủ, Minh Châu, Trí Tịnh và
Thiện Siêu chỉ có mối liên hệ duy nhất với Đảng Cộng
Sản về chính trị, cũng vậy, không thể nói rằng mối liên
hệ của thiền sư Nhất Hạnh với Đảng Cộng Sản chỉ duy
nhất là mối liên hệ giáo phái; không thể nói rằng mối
liên hệ của giáo sư Lê Mạnh Thát và Thượng Tọa Tuệ Sỹ
với Đảng Cộng Sản chỉ duy nhất là mối liên hệ học
thuật. Cái nhìn như vậy, của ông VVA, là cái nhìn
một chiều, cục bộ, khép kín và bị đóng khung trong lăng
kính giới hạn của một người đời làm chính trị, mà không
phải là quan kiến có trí tuệ của một cư sĩ Phật tử có
thực học và thực tu trong giáo pháp vi diệu của đạo Phật.
Chính ông VVA đã định danh và thiết lập theo chủ tâm của
ông các mối liên hệ đó. Đó là cách định danh cưỡng
ép và cách thiết lập các mối liên hệ đầy ác ý của ông
để chụp mũ và xuyên tạc hành trạng của một số Tôn Đức
trong nước.
Ông VVA định
danh mối liên hệ thứ tư là “liên hệ chúng sinh.”
Ông đã diễn dịch rằng: “Đây là mối liên hệ vượt thời
gian, vượt không gian của đạo Phật. Bao lâu chúng sinh còn
đau khổ, bao lâu chúng sinh còn bị áp bức, bao lâu chúng sinh
còn sống trong vô minh, thì Nhị vị Hòa thượng Thích Huyền
Quang và Thích Quảng Độ còn liên hệ với họ để cứu họ.
Đây chính là yếu tính của Bồ tát đạo, mà cũng là yếu
tính của Phật giáo Việt Nam.”
Ông VVA định
danh mối liên hệ như trên thật là khiên cưỡng và sai chánh
pháp! Bởi vì, thứ nhất, đó đúng ra là mối liên hệ
giữa Bồ tát và chúng sinh, chứ không phải giữa chúng sinh
với nhau. Thứ hai, đã gọi là “mối liên hệ” tức
là còn nằm trong vòng tương đối, tương đãi, tức còn có
giới hạn, thì làm sao gọi là “vượt thời gian, vượt không
gian”? Thứ ba, vì chúng sinh là loài hữu tình, là pháp
hữu lậu, hữu vi cho nên không có khởi đầu (vô thỉ), nhưng
có chấm dứt (hữu chung). Không có khởi đầu vì từ
vô thỉ vô minh, nhưng có chấm dứt khi thành tựu đại giác
ngộ và đại giải thoát. “Vượt thời gian, vượt không
gian” là pháp vô vi, là tuyệt đối, thì không còn nằm trong
các mối liên hệ tương quan tương sinh nữa. Vì vậy,
đức Phật dạy giáo nghĩa duyên khởi, tương quan tương duyên,
để khai thị bản chất không thật, pháp tính không của tất
cả pháp, để chúng sinh thâm nhập vào ý nghĩa thâm tế của
trung đạo đệ nhất nghĩa đế, của tịch tịnh niết bàn.
Giáo pháp duyên khởi vì vậy không phải là loại lý luận
thuần lý đem ra để hý luận, mà để thực nghiệm và thoát
khổ, trừ mê. Thứ tư, không lẽ chỉ có nhị vị Hòa
Thượng Huyền Quang và Hòa Thượng Quảng Độ là có tâm nguyện
cứu khổ độ sinh của bồ tát ư? Tất cả chư tôn đức
Tăng, Ni của Phật Giáo Việt Nam đều không có lấy một tấm
lòng từ bi và trí tuệ nào hay sao? Lấy tiêu chuẩn nào
để quyết đoán như vậy? Ông VVA dùng cặp mắt nào
để chiếu soi rõ mà xác quyết như vậy, là nhục nhãn, thiên
nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn hay Phật nhãn? Tôi nghĩ nhị vị
Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ nếu nghe
ông VVA ca tụng quý ngài một cách thô thiển như vậy, chắc
không lấy gì làm hoan hỷ đâu!
Trong ý nghĩa
của giáo pháp “tương quan tương sinh” khắp vũ trụ pháp
giới của duyên khởi, ông VVA có biết rằng chính ông cũng
có những mối liên hệ trong tương quan tương duyên với đảng
cộng sản Việt Nam không? Tôi xin góp vài gợi ý để
ông VVA thấy được rõ hơn điều tôi vừa nói trên.
Đó là, trong giáo nghĩa duyên sinh, đức Phật đã dạy:
“Cái này có, cho nên cái kia có; cái này không cho nên,
cái kia không” (Thử hữu cố bỉ hữu; thử vô cố bỉ vô).
Trong ý nghĩa đó, vì có sự đàn áp GHPGTN và chà đạp nhân
quyền của đảng cộng sản Việt Nam, cho nên, có sự vận
động cho nhân quyền và phục hoạt GHPGVNTN mà ông VVA đã
và đang đóng góp. Ngược lại, ngày nào, đảng cộng
sản Việt Nam không còn đàn áp GHPGTN, không còn chà đạp
nhân quyền, thì lúc đó ông VVA cũng sẽ không còn vận động
cho nhân quyền Việt Nam và phục hoạt GHPGVNTN nữa. Qua
mối tương quan tương sinh ấy, giữa ông VVA và đảng cộng
sản Việt Nam, còn có một chiều tương quan tương sinh khác,
đó là nhờ công cuộc vận động nhân quyền và phục hoạt
GHPGVNTN của ông VVA mà đảng cộng sản Việt Nam đã có một
số nhượng bộ đối với vấn đề nhân quyền, đối với
các tôn giáo nói chung và Phật Giáo nói riêng, và cũng vì
vậy, đảng cộng sản Việt Nam đã có thể tiếp tục sống
còn. Đưa một tỉ dụ để cho thấy rằng đấy chỉ
là cách cắt xén mối tương quan tương duyên toàn diện để
đặt vào trong cái khung giới hạn rồi nhìn theo lăng kính
hạn cục của con người, giống như ông VVA đã làm đối
với chư Hòa Thượng, Thượng Tọa và Giáo sư đã nói ở
trên. Cái nhìn đó, thực sự không phải là cái nhìn
toàn diện đối với các pháp, các sự kiện. Sự thật
là ông VVA không phải chỉ có mối tương quan tương sinh với
đảng cộng sản Việt Nam mà là tương quan tương duyên với
toàn xã hội, với cả thế giới và vũ trụ qua tất cả mọi
lãnh vực sinh hoạt của đời sống.
Cho nên, chư
Hòa Thượng Thích Trí Thủ, Thích Trí Tịnh, Thích Minh Châu,
Thích Thiện Siêu, Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh, Thượng Tọa
Thích Tuệ Sỹ và Giáo sư Trí Siêu Lê Mạnh Thát không phải
chỉ có mối liên hệ duy nhất mà ông VVA gọi là “liên hệ
chính trị, liên hệ giáo phái và liên hệ học thuật” đối
với Đảng Cộng Sản, chư vị Hòa Thượng, Thượng Tọa và
Giáo sư ấy còn có mối liên hệ trong tương quan tương duyên
toàn diện với dân tôc, với nhân loại và vũ trụ pháp giới
trên tất cả mọi khía cạnh của đời sống Đạo và đời
sống bình thường của một con người. Cũng như vậy,
nhị vị Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ
không phải chỉ có một mối liên hệ duy nhất mà ông VVA
gọi là “liên hệ chúng sinh”, nhưng trong ý nghĩa pháp giới
trùng trùng duyên khởi, nhị vị Hòa Thượng còn có những
mối liên hệ toàn diện với dân tộc, với nhân loại và
vũ trụ pháp giới. Nhìn như vậy mới đúng với nhãn
quan của giáo nghĩa tương quan tương duyên của duyên khởi
hay rộng hơn của pháp giới trùng trùng duyên khởi.
Trong buổi
họp báo của Văn Phòng II Viện Hóa Đạo (mới) tổ chức
tại Civic Center của thành phố Westminster, bang California, Hoa
Kỳ, vào trưa ngày 13 tháng 10 năm 2007, ông VVA đã giải thích
xuyên tạc giáo lý Tứ Diệu Đế khi ông nói rằng “Đảng
Cộng Sản Việt Nam là Tập đế, là nguyên nhân gây ra đau
khổ cho dân tộc.” Ông VVA có hiểu gì về Tứ Diệu
Đế không mà sao phát biểu như vậy? Ông VVA có biết
chữ “Đế” trong Tứ Đế có nghĩa là gì? Chữ “Đế”
trong Tứ Diệu Đế là sự thật, là chân lý, mà sự thật
hay chân lý luôn luôn có tính phổ quát, phổ quát về không
gian và thời gian. Về không gian, phổ quát tính có nghĩa
là sự thật ấy không phải chỉ được thừa nhận ở chỗ
này, ở quốc độ này mà bị phủ nhận tại chỗ kia, quốc
độ kia. Về thời gian, phổ quát tính có nghĩa là sự
thật ấy không phải chỉ được thừa nhận ở thời đại
này mà bị phủ nhận ở thời đại khác. Trong ý nghĩa
đó, Tập Đế là nguyên nhân gây đau khổ mang tính phổ quát
ở mọi thời và mọi nơi. Chính vì vậy, đức Thế Tôn
đã không gọi sự phân biệt giai cấp của xã hội Ấn Độ
lúc bấy giờ là Tập Đế, mặc dù nó tạo ra bao nhiêu khổ
lụy cho dân tộc Ấn. Sự phân biệt giai cấp chỉ có
ở Ấn mà chưa chắc đã có ở những nơi khác, cũng như nó
có ở thời đức Phật mà chưa chắc đã có ở các thời
đại sau. Đảng Cộng Sản Việt Nam có gây ra khổ nạn
cho dân tộc, nhưng đó chưa phải là Tập Đế, mà chính tham,
sân, si, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến trong
con người của đảng viên cộng sản Việt Nam mới gây đau
khổ cho dân tộc. Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ có mặt
một thời gian nào đó trong vận hành lịch sử của Việt
Nam, rồi cũng bị diệt vong, làm sao nó có thể là Tập Đế?
Sự hiểu
biết của ông VVA đối với Phật Pháp quá non nớt hay là
ông cố tình giải thích sai chánh pháp để phục vụ cho mưu
đồ chính trị của ông? Nhưng, làm sao ông VVA lại không
hiểu biết được ý nghĩa căn bản của Tứ Diệu Đế như
vậy, cho nên, ông thật sự cố tình giải thích xuyên tạc
Chánh pháp trong thủ thuật chính trị, mà trong trường hợp
này là Tập Đế, để khích động lòng thù hận của Tăng,
Ni và quần chúng Phật tử trong mục tiêu tận diệt cộng
sản giống như tận trừ Tập Đế. Là một nhà chính
trị, một tổ chức đảng phái chính trị đấu tranh có thể
làm việc đó, nhưng GHPGVNTN nói riêng và Phật Giáo nói chung
thì không thể khích động lòng thù hận nhắm đến tiêu diệt
bất cứ ai, bất cứ chế độ nào! Công cuộc vận động
của GHPGVNTN nhắm đến hai mục tiêu: Một, để phục
hồi sinh hoạt bình thường của GHTN; hai, để chuyển
hóa cái xấu ác trong từng cá nhân con người, đặc biệt
con người cộng sản, hầu xây dựng đạo đức tâm linh và
cải thiện xã hội, mang lại tự do, dân chủ, nhân quyền
và thịnh vượng cho dân tộc. Còn một điều kỳ lạ
nữa là trong lúc ông VVA phát biểu xuyên tạc Chánh pháp của
đức Phật như vậy, mà chư vị Hòa Thượng, Thượng Tọa
và Pháp Sư ngồi chứng minh ở đó đã không có vị nào lên
tiếng giải thích lại cho đúng để tránh làm tổn hại nghiêm
trọng đối với Chánh pháp và chánh kiến của quần chúng
Phật tử! Tại sao? Không lẽ chư tôn đức ấy đều
cho sự giải thích của ông VVA đối với giáo lý Tứ Đế
như vậy là đúng?
Trong Thông
Cáo Báo Chí của PTTPGQT phổ biến ngày 28 tháng 01 năm 2008,
ông VVA cũng đã nhiều lần dựng chuyện để xuyên tạc, vu
khống và chụp mũ chư Tôn Đức và quý Phật tử. Xin
trích vài đoạn để người đọc thấy rõ điều ấy:
“…có vài
vị Tăng sĩ trong Giáo hội muốn tái hồi sự biến năm 1981,
thỏa hiệp với Nhà nước Cộng sản nhằm phụ tay thanh toán
Giáo hội Phật giáo Phật giáo Việt Nam Thống nhất…”
Nhị vị
Đại lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ
lãnh đạo GHTN còn đó với trí tuệ và oai đức sáng rỡ,
ai có đủ uy đức để có thể “tái hồi sự biến năm 1981”?
Đây là chuyện bịa đặt và xuyên tạc, hoàn toàn không đúng
với thực tế của GHTN trong nước. Trong tình hình Phật
Giáo Việt Nam gần đây làm sao có thể thực hiện cái gọi
là “tái hồi sự biến năm 1981”? “Sự biến năm 1981”
là việc chính quyền cộng sản vì muốn: một mặt dựng lên
một GH dưới sự kiếm soát của nhà nước, mặt khác nhằm
vô hiệu hóa GHPGVNTN. Cho nên mới thành lập GHPGVN vào
năm 1981. Hiện nay chính quyền đã có một GH nhà nước rồi,
họ cần gì lập thêm một GH nữa. Còn GHTN, sau khi đã
được tái bổ sung thành phần nhân sự của Lưỡng Viện
trong Đại Hội Bất Thường ở Nguyên Thiều, Bình Định vào
tháng 10 năm 2003, đã có cơ chế và nhân sự làm việc thì
mọi quyết định lớn lao ảnh hưởng đến vận mệnh của
GHTN đều phải được sự đồng thuận của Hội Đồng Lưỡng
Viện, ai có thể tự ý khuynh loát và thay đổi chính sách
của GHTN? Cho nên, cái gọi là “tái hồi sự biến năm
1981” thực chất chỉ là một thứ luận điệu tuyên truyền
của nhóm ông VVA muốn mượn tay cộng sản để “thanh trừng”
nội bộ, loại bỏ chư Tôn Đức không tín nhiệm họ.
Vì vậy, sau đó vào cuối năm 2005 mới có Giáo chỉ số 2
chấn chỉnh và bổ sung nhân sự của Hội Đồng Viện
Hóa Đạo để loại trừ quý Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ,
Thích Đức Thắng, Thích Thanh Huyền, Thích Phước An, Thích
Quảng Hạnh, Thích Thái Hòa, Thích Phước Viên.
“Các vị
Tăng sĩ này lôi kéo một số Tăng sĩ, Cư sĩ tu xuất ở hải
ngoại, gọi là Nhóm Thân hữu Già Lam, hậu thuẫn cho đường
hướng đầu hàng mới.”
Ông VVA đã
nhắm mắt bịt tai để tiếp tục dựng chuyện mà vu khống,
chụp mũ đối với chư Tôn Đức và Phật tử, đặc biệt
đối với Hội Thân Hữu Già Lam (HTHGL). HTHGL đã công
bố Tâm Thư vào ngày 10 tháng 10 năm 2007 để trình bày rõ
tâm nguyện, đường hướng và sinh hoạt trước công luận.
Vậy mà ông VVA như không hay biết gì cứ liên tục đánh phá.
HTHGL không hề bị ai lôi kéo, mà là do sự tự nguyện tự
phát cùng ngồi lại để khuyến tấn nhau góp phần vào việc
hoằng dương Chánh pháp, trợ lực cho những công trình lợi
lạc lâu dài về văn hóa, giáo dục và từ thiện xã hội
trong và ngoài nước. Đâu là “đường hướng đầu
hàng mới”? “Đầu hàng” với ai? Với cộng sản?
Ai là cộng sản mà HTHGL đầu hàng? Việc HTHGL hỗ trợ
cho công trình giáo dục của Giáo sư Trí Siêu Lê Mạnh Thát
là việc làm vì lợi ích lâu dài nhằm giáo dục cho thế hệ
Tăng, Ni trẻ trong nước, tạo điều kiện học hỏi cho Tăng,
Ni trẻ để góp phần vào việc nuôi dưỡng chất xám, nuôi
dưỡng tương lai của Phật Giáo Việt Nam. Việc làm ấy
sao gọi là “đầu hàng”? “Đầu hàng” chính là buông
xuôi, là bỏ mặc chuyện giáo dục cho các thế lực khác,
cho chính quyền cộng sản để họ muốn làm gì thì làm, muốn
uốn nắn thế nào thì uốn nắn! “Đầu hàng” chính
là phó thác nhiệm vụ đào tạo Tăng, Ni và Phật tử cho người
khác, cho chính quyền cộng sản, chính là khoanh tay đứng nhìn
kẻ khác đưa đẩy cả thế hệ con em đi vào con đường sai
lầm mà mình đã thấy!
“Đặc biệt
hơn, vị trụ trì ngôi chùa này, Sư Quảng Thanh không là thành
viên của GHPGVNTN và từ ba năm qua không ngừng lên đài phát
thanh công kích, phỉ báng chư vị lãnh đạo GHPGVNTN.”
Tôi sống
tại miền Nam California, Hoa Kỳ. Tôi cũng đã nhiều lần
đến viếng thăm Chùa Bảo Quang của Thượng Tọa Thích Quảng
Thanh vào những dịp lễ lớn của Phật Giáo. Tôi cũng
thường theo dõi truyền hình, truyền thanh và báo chí ở đây.
Nhưng từ suốt trên ba năm nay tôi không hề nghe Thượng Tọa
Thích Quảng Thanh “công kích, phỉ báng chư vị lãnh đạo
GHPGVNTN”. Chỉ là gần đây vài tháng, vì biến cố Giáo
Chỉ số 9 và Thông Bạch hướng dẫn Giáo chỉ số 9 đã làm
hoang mang và phân hóa cộng đồng Phật Giáo Việt Nam hải
ngoại, vì vậy, Thượng Tọa Thích Quảng mới có một vài
lần lên đài phát thanh giải thích để trấn an quần chúng
Phật tử đang hoang mang. Cho nên, ông VVA nói “từ ba
năm qua không ngừng lên đài phát thanh công kích, phỉ báng
chư vị lãnh đạo GHPGVNTN” là cách nói cường điệu, là
dựng chuyện, là xuyên tạc và vu khống.
Trong Thông
Cáo Báo Chí nói trên, ông VVA đã đưa ra hai lý do tại sao
có Giáo Chỉ số 9 ra đời như sau:
“Thứ nhất
do có vài vị Tăng sĩ trong Giáo hội muốn tái hồi sự biến
năm 1981, thỏa hiệp với Nhà nước Cộng sản nhằm phụ tay
thanh toán Giáo hội Phật giáo Phật giáo Việt Nam Thống nhất
dưới sự lãnh đạo của Đức Tăng thống Thích Huyền Quang
và Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện
Hóa Đạo. Các vị Tăng sĩ này lôi kéo một số Tăng sĩ, Cư
sĩ tu xuất ở hải ngoại, gọi là Nhóm Thân hữu Già Lam,
hậu thuẫn cho đường hướng đầu hàng mới. Vì vậy mà
ngày 7.1.2007 xuất hiện tại miền Nam California Nhóm Tăng Ni
Việt Nam Hải ngoại do Hòa thượng Thích Minh Tâm cầm đầu.
Cuộc họp thành lập chư Tăng các châu này không thông qua
hệ thống tổ chức giáo hội thuộc Văn phòng II Viện Hóa
Đạo chiếu theo Quy chế và Hiến chương Giáo hội quy định.
Thành lập xong, Nhóm Tăng Ni Việt Nam Hải ngoại bước sang
bành trướng thế lực qua cuộc hội họp gọi là Ngày Về
Nguồn tại chùa Pháp Vân ở thị trấn Mississauga, Canada, các
ngày 21, 22, 23.9.2007, rồi tiếp đến cái gọi là Đại hội
Bất thường của 8 Hòa thượng và 4 Cư sĩ tại chùa Bảo
Quang hôm 12.1.2008. Đại hội này tự xưng là GHPGVNTN nhưng
lại tụ họp trong một ngôi chùa (Bảo Quang) không hề có
chân trong danh sách các chùa thuộc GHPGVNTN Hải ngoại tại
Hoa Kỳ. Đặc biệt hơn, vị trụ trì ngôi chùa này, Sư Quảng
Thanh không là thành viên của GHPGVNTN và từ ba năm qua không
ngừng lên đài phát thanh công kích, phỉ báng chư vị lãnh
đạo GHPGVNTN.”
“ Thứ hai,
trợ thủ cho việc đánh phá GHPGVNTN nói trên, Nhà nước Cộng
sản mở chiến dịch phỉ báng, mạ lỵ, vu khống Đại lão
Hòa thượng Thích Quảng Độ và GHPGVNTN trên các cơ quan truyền
thông đại chúng và qua 600 tờ báo của Đảng trong vòng 2
tháng (giữa tháng 7, 8 sang tháng 9.2007). Đồng thời hàng giáo
phẩm thuộc Viện Hóa Đạo và một số vị Chánh Đại diện
GHPGVNTN tại các tỉnh bị triệu đến cơ quan Công an hay Ủy
ban Nhân dân làm việc, kể cả Đại lão Hòa thượng Thích
Quảng Độ.”
“Trước
nguy cơ “trong đánh ra ngoài đánh vào” này, Đức Tăng thống
Thích Huyền Quang ban hành Giáo chỉ số 9 nhằm chấn chỉnh
nội bộ và đối phó với tình hình đàn áp mới.”
Viết như
vậy, ông VVA đã sử dụng thủ thuật chính trị với cái
tâm vừa gian vừa ác! Gian, vì ông VVA cố tình muốn cho
người đọc hiểu rằng những việc làm của chư tôn đức
Tăng, Ni và Phật tử tại hải ngoại có cùng mục đích như
“chiến dịch phỉ báng, mạ lỵ, vu khống đại lão Hòa Thượng
Thích Quảng Độ và GHPGVNTN trên các cơ quan truyền thông đại
chúng và qua 600 tờ báo của Đảng trong vòng 2 tháng.”
Ác, vì ông VVA cố tình xuyên tạc, vu khống, chụp mũ chư
tôn đức Tăng, Ni và Phật tử hải ngoại để khích động
lòng căm thù đối với chư tôn đức Tăng, Ni và Phật tử
này!
Ông VVA đã
nói sai sự thật, bởi vì trước khi mở cuộc họp tại Phật
Học Viện Quốc Tế, bang California, vào ngày 7 tháng 01 năm
2007, chư tôn đức Tăng, Ni mà đại diện là Hòa Thượng Thích
Minh Tâm đã có thưa thỉnh và bàn bạc với Hòa Thượng Thích
Hộ Giác. Chính Hòa Thượng Thích Hộ Giác đã hoan hỷ
và hứa đến tham dự trong cuộc họp này. Nhưng, cuối
cùng Hòa Thượng đã không đến. Ông VVA đúng ra phải
biết rằng tại hải ngoại, ngoài GHPGVNTNHN-HK và Văn Phòng
II VHĐ ra còn có nhiều Giáo Hội khác đã và đang sinh hoạt,
như Tổng Hội PGVN tại Hoa Kỳ, Giáo Hội PGVN Trên Thế Giới,
Giáo Hội Liên Tông PGVN tại Hoa Kỳ, Giáo Hội Linh Sơn Trên
Thế Giới, Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới, v.v… Những
Giáo Hội này không nằm trong hệ thống lãnh đạo của Văn
Phòng II VHĐ. Như vậy, việc chư tôn đức Tăng, Ni trên
khắp thế giới đang sinh hoạt trong nhiều Giáo Hội, Giáo
Phái, Hệ Phái cùng ngồi lại trong Tăng Ni Việt Nam Hài Ngoại
và Ngày Về Nguồn đâu cần phải thông qua sự chấp thuận
của Văn Phòng II VHĐ. Sự ngồi lại của chư Tăng, Ni
trong Ngày Về Nguồn là để củng cố đạo lực thanh tịnh
hòa hợp của Tăng già, cùng nhau sách tấn trên con đường
hành đạo, góp phần làm vững mạnh tập thể Tăng già để
hậu thuẫn cho các Giáo Hội và công cuộc vận động phục
hoạt GHPGVNTN. Giống như vậy, chính Hòa Thượng Thích
Hộ Giác cũng đã hoan hỷ tán thán việc tổ chức Ngày Về
Nguồn tại Chùa Pháp Vân, Canada, và hứa đến tham dự, khi
Thượng Tọa Thích Tâm Hòa đến đảnh lễ cung thỉnh ngài
quang lâm, nhưng cuối cùng Hòa Thượng cũng đã không đến.
Trong Thông
Cáo Báo Chí nói trên, ông VVA viết:
“Tám
vị Hòa thượng : Thích Thắng Hoan, Thích Trí Chơn, Thích Chơn
Thành, Thích Nguyên Lai, Thích Tín Nghĩa, Thích Hạnh Đạo, Thích
Nguyên An, Thích Tín Nghĩa, và Thích Nguyên Trí viết thư công
khai ngày 4.12.2007 loan tải trên Internet vu cáo, phỉ báng vô
bằng Phát ngôn nhân Viện Hóa Đạo, là Cư sĩ Võ Văn Ái.
Đây là hành động thiển cận, vừa vọng ngữ vừa ác ngữ,
không xứng với cương vị tu hành của người Tăng sĩ. Một
bức thư như thế đưa ra pháp luật sẽ là một hành vi tội
phạm, vì các luận cứ đưa ra đều vô bằng. Như người
nhìn sợi dây trong đêm mà tưởng là con rắn, nên hô hoán
ầm ỉ.”
Tám vị Hòa
Thượng đã danh chánh ngôn thuận đồng ký tên trong bài viết
đó là một hành vi quang minh chính đại, từ lời lẽ đến
nội dung đều nghiêm túc trình bày nội tình của biến cố
Giáo Chỉ và Thông Bạch để cho Tăng, Ni và Phật tử trong
và ngoài nước được biết rõ. Không lẽ ông VVA không
biết đến hàng chục bài viết đăng trên các trang nhà điện
tử Tinparis, Take2tango, và phổ biến khắp thế giới qua các
email group, mà lời lẽ thì thô tục, nội dung thì cạn cợt,
nông nổi, chỉ biết xuyên tạc sự thật, vu khống, chụp
mũ, chửi bới như kẻ vũ phu thất học ở đầu đường xó
chợ! Những bài như vậy đối với ông là đúng, là
hay sao? Ông VVA mới chính là người nhìn con rắn thật
mà cho là sợi dây. Ông VVA còn lên giọng hù dọa quý
Hòa Thượng. Quý Hòa Thượng nói ông ăn tiền của tổ
chức NED là không đúng hay sao? Khắp cả thiên hạ đều
biết việc này là sự thật mà ông còn chống chế gì nữa!
Ông VVA nói việc quý Hòa Thượng viết trong bài “Giáo Chỉ
Thông Bạch và cơn khủng hoảng của Phật Giáo Việt Nam tại
hải ngoại” là “hành vi tội phạm.” Vậy tôi xin
hỏi ông khi ông tuyên bố thẳng thừng trong các cuộc phỏng
vấn và hội luận trên đài, trên hệ thống paltalk chỉ đích
danh quý Hòa Thượng là cộng sản, thì điều này nếu đưa
ra luật pháp có là “hành vi tội phạm” không?
Cũng trong
Thông Cáo Báo Chí nói trên, ông VVA viết:
“Thế nhưng
8 Hòa thượng tiếm danh GHPGVNTN kia, nhóm Thân hữu Già Lam nọ,
nhóm Tăng Ni Việt Nam Hải ngoại này vẫn cứ “thuần túy
tu học”, “thuần túy Về Nguồn”, “thuần túy Đại hội”.”
Tôi thách
thức ông VVA trưng ra bằng chứng thật sự để chứng minh
rằng Hội Thân Hữu Già Lam, Tăng Ni Việt Nam Hải Ngoại đã
từng tuyên bố hay viết rằng “thuần túy tu học”, “thuần
túy Về Nguồn”, “thuần túy Đại Hội”, hay mấy cái “thuần
túy” mà ông luôn luôn đặt vào miệng hay ngòi bút người
khác! Nếu ông VVA không đưa ra được bằng chứng thật
sự về mấy khẩu hiệu trên, thì ông VVA là người bịa đặt,
xuyên tạc sự thật, vu khống và chụp mũ Hội Thân Hữu Già
Lam, Tăng Ni Việt Nam Hải Ngoại.
Tôi biết
ông không tài nào có thể tìm ra được bằng chứng thật
sự là Hội Thân Hữu Già Lam và Tăng Ni Việt Nam Hải Ngoại
đã từng nói hay viết mấy cái khẩu hiệu đó, bởi vì nó
chỉ là sản phẩm trí tuệ của ông, là thủ đoạn chính
trị ông dùng để vu khống người khác.
Nhưng tôi
thì xin đưa ra đây bằng chứng cụ thể là ông VVA đã từng
tuyên bố và viết như vậy. Trong Giáo Chỉ số 9, phần
nhận định thứ 6, viết:
“Các cuộc
cứu trợ thuần túy từ thiện xã hội của Giáo Hội đã
được thực hiện công khai ngày 13.7 và 17.7 tại Saigon và
ngày 23.8 tại Hà Nội.”
Điều kỳ
lạ là, trong Thông Cáo Báo Chí của PTTPGQT phổ biến ngày
26 tháng 9 năm 2007, ông VVA đã kịch liệt phản bác chính luận
điểm “thuần túy” trong Giáo Chỉ số 9, như sau:
“Luận điểm
tuyên truyền của họ là: “Nên làm văn hóa thuần túy,
nên lo giáo dục thuần túy, nên tu học thuần túy”.
Đây là thứ lý luận đuổi chim để thủ tiêu tranh đấu.”
Ông VVA ơi
là ông VVA!!! Sao ông lại có cái gan bằng trời như vậy?
Ông hô hào chư tôn đức Tăng, Ni và Phật tử phải khâm tuân
Giáo Chỉ, ai không khâm tuân thì bắn bỏ! Vậy mà chính
ông đã cực lực phản đối tinh thần “thuần túy” của
Giáo Chỉ đó. Như vậy là thế nào? GHPGVNTN đi làm
“cứu trợ thuần túy từ thiện xã hội” có phải là hành
động “đuổi chim để thủ tiêu tranh đấu”?
Bài viết
này được viết ra vì nỗi đau cho Phật Giáo Việt Nam đối
với hai sự kiện:
Thứ nhất,
tôi không thể nhìn thấy Phật pháp bị tổn hại nghiêm trọng
để di họa lâu dài về sau bởi một người như ông VVA, vì
tham vọng chính trị đã bất chấp hậu quả dám giải thích
xuyên tạc nội dung của Chánh pháp, theo tư kiến tư dục của
mình, mà đức Phật và lịch đại tổ sư đã dày công giáo
hóa và truyền thừa cho đến hôm nay.
Thứ hai,
tôi không thể đứng nhìn tình trạng sinh hoạt của GHPGVNTN
nói riêng và Phật Giáo Việt Nam nói chung đã bị ông VVA cố
tình lèo lái đi theo con đường của những tổ chức đảng
phái chính trị bá đạo thế gian với đầy đủ những thủ
đoạn, gian ác, vu khống, chụp mũ, cực đoan, thù hận, thanh
trừng và tàn hại lẫn nhau!
Sau cùng,
để chấm dứt bài viết này, tôi xin thành kính nêu ra một
vấn nạn liên hệ đến trách nhiệm tinh thần đối với tất
cả chư tôn đức Tăng, Ni và đồng bào Phật tử trong và
ngoài nước rằng, với một người vì tham vọng chính trị
cá nhân như ông VVA đã bất chấp tất cả dù đó là việc
làm tổn hại nghiêm trọng đến Phật Pháp, thì còn có đủ
tư cách để đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng trong cơ
cấu tổ chức GHPGVNTN hay không?
Thành tâm
tri ân chư tôn đức Tăng, Ni và quý Phật tử.
Như Thuyết
