NHẬN ÐỊNH
VỀ ÐẠI HỘI BẤT THƯỜNG
của Giáo Hội PGVNTNHN
tại Hoa Kỳ
được tổ chức
tại chùa Bửu Môn ngày 12 tháng 11 năm 2007
Tâm Tịnh
______________________________________________________________________
Hòa Thượng
Thích Hộ Giác, Phó Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo theo lệnh
của Hòa Thượng Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo gấp rút triệu
tập Ðại Hội Bất Thường của Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất Hải Ngọai tại Hoa Kỳ, ngày 12 tháng 11 năm
2007 tại chùa Bửu Môn, Texas, không tham khảo ý kiến
của Hội Ðồng Giáo Phẩm, không đủ túc số cần thiết
hoặc thành viên của Hội Dồng Giáo Phẩm hay thành viên của
Hội Ðồng Ðiều Hành Giáo Hội PGVNTNHN tại Hoa Kỳ theo Qui
Chế của Giáo Hội.
Ông
Võ Văn Ái và Hòa thượng Thích Chánh Lạc,
hai
tác nhân chính gây nên cuộc khủng hoảng trầm trọng của
GHPGVNTN
gây
phân hóa, chia rẻ trong cộng đồng Phật tử Việt nam Hải
ngoại
và
làm tê liệt hoàn toàn mọi sinh hoạt của các
Giáo
hội PGVNTN/HN từ Hoa Kỳ đến Canada,
từ
Âu đến Úc châu và Tân Tây Lan.
Trước khi
Hòa Thượng Thích Hộ Giác triệu tập Ðại Hội Bất Thường,
theo chúng tôi biết những văn thư sau đây đã gửi cho đức
Tăng Thống, Hòa Thượng Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo và Hòa
Thượng Thích Hộ Giác:
1. Thư của
Hòa Thượng Thích Thích Hoan, Chánh Văn Phòng Hội Ðồng Giáo
Phẩm Giáo Hội PGVNTHHN tại Hoa Kỳ đề ngày 12- 10- 2007 gửi
Ðức Tăng Thống và Hòa Thượng Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo
xin chỉ giáo về một số vấn đề liên quan đến Giáo
Hội PGVNTN và Giáo Hội PGVNTNHN tại Hoa Kỳ qua Giáo Chỉ số
9 và Thông Bạch Hướng Dẫn Thi Hành Giáo Chỉ
2. Văn Thư
của Hòa Thượng Thích Thắng Hoan, Chánh Văn Phòng Hội Ðồng
Giáo Phẩm, Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại Hoa Kỳ đề ngày
19- 10- 2007 gửi Hòa Thượng Thích Hộ Giác về Ðại Hội Bất
Thường
3. Văn Thư
của Hòa Thượng Thích Tín Nghĩa, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ
Cư Sĩ đề ngày 20- 10- 2007 gửi Hòa Thượng Thích Hộ Giác
về Ðại Hội Bất Thường
4. Một số
bài vở liên quan đến tình hình Phật Giáo liên quan đến
Giáo Chỉ số 9 và Thông Bạch Hướng Dẫn Thi Hành Giáo Chỉ
5. Văn Thư
của Nhóm Tăng Ni Hải Ngoại đề ngày 9- 11- 2007 gửi Hòa Thượng
Thích Thiện Hạnh: Nhận Ðịnh về Vai Trò và Bản Phúc Trình
của vị Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống
Và trước
đó hơn một năm
- Tổng Vụ
Trưởng Tổng Vụ Cư Sĩ, Tỳ Kheo Thích Tín Nghĩa trong văn
thư đề ngày 4 tháng 1 năm 2006 gửi Hòa Thượng Thích Hộ
Giác, đồng thời kính gửi Ðức Tăng Thống, Hòa Thượng
Viện Trưởng Viện Hoa Ðạo trình bày những ưu tư về tình
hình Giáo Hội.
- Tổng Vụ
Trưởng Tổng Vụ Tăng Sự, Tỳ Kheo Thích Nguyên An, trong văn
thư đề ngày 12 tháng 1 năm 2006 gửi Hòa Thượng Thích Hộ
Giác, đồng thời kính gửi Ðức Tăng Thống, Hòa Thượng
Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo, trình bày sinh hoạt Giáo Hội
trong những năm sau Ðại Hội Khóang Ðại III năm 2004
- Bài “Thưa
Chuyện với tác giả hai ngụy thư vu khống mạ lỵ chư tôn
đức Tăng Già”gửi chư Tôn Ðức Tăng Ni trong và ngoài nước,
gửi chư vị cư sĩ, huynh trưởng GÐPT trong và ngoài nước
Tất cả
Văn Thư, Bài Vở đơn cử nêu trên, theo chúng tôi được biết
đều không được cứu xét, không được trả lời!
Theo Thông
Cáo Báo Chí làm tại Port Arthur ngày 12- 11- 2007, Ðại Hội
dù triệu tập khẩn cấp, vẫn có 89 đơn vị gồm 108 Hòa
Thượng, Thượng Tọa, Ðại Ðức Tăng Ni và Cư Sĩ Ðại Biểu
tham dự. Theo chúng tôi được biết những Phật tử tham dự
đều xem là Ðại Biểu, hai vợ chồng tham dự là hai Ðại
Biểu và bạn bè của những Phật tử đó cũng được xem
là Ðại Biểu.
Trong HUẤN
TỪ của Ðại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, Viện Trưởng
Viện Hóa Ðạo gửi Ðại Hội Bất Thường GHPGVNTN Hải Ngoại
tại Hoa Kỳ, Hòa Thượng nói:
“Như
quí vị đều biết, việc ban hành Giáo Chỉ là một việc
hết sức nghiêm trọng và cấp bách. Việc chẳng đặng đừng
liên quan đến vấn đề sinh tử của Giáo Hội”. . .”Hòa
Thượng đề cập đến việc ông Nguyễn Văn Hướng, Thứ
Trưởng Bộ Công An, ngày 30- 4- 2007 từ Hà Nội vào Tu Viện
Nguyên Thiều tại Bình Ðịnh thăm đức Tăng Thống và ngỏ
lời khuyên ngài nghỉ việc để nghỉ ngơi. Khi tiễn chân
ông ra ngõ có Thượng Tọa Minh Tuấn đi theo. Ông Hướng quay
lại nói với Thượng Tọa Minh Tuấn đừng để cho ông Quảng
Ðộ gặp đức Tăng Thống. Thầy Minh Tuấn hỏi tại sao không
cho gặp thì ông Hướng trả lời vì ông Quảng Ðộ bắt tay
với Mỹ rồi. Ðức Tăng Thống đứng đó nghe hỏi ông Hướng
“Nhà Nước cũng bắt tay với Mỹ rồi đấy thôi? Thế lúc
bắt lúc không à?”Ông Hướng lặng thinh. Lời qua tiếng lại
này lẽ dĩ nhiên không phải nguyên văn, vì Hòa Thượng Tăng
Thống người Bình Ðịnh không dùng ngôn từ “Cũng bắt
tay với Mỹ rồi đấy thôi, thế lúc bắt lúc không à?”Tuy
nhiên điều này không quan trọng. Ðiều đáng chú ý là lời
qua tiếng lại của vị Tăng Thống đối với khách, dù khách
thuộc hạng nào, cũng làm mất đi sự nghiêm chỉnh của một
vị lãnh đạo tinh thần. Có nên thuật lại không? Lợi chỗ
nào, hại chỗ nào?
Hòa Thượng
Viện Trưởng nói tiếp: “Sau đó ít lâu, ông Trần Tư,
cũng là một viên chức cao cấp của Bộ Công An, cũng vào
tu viện Nguyên Thiều thăm đức Tăng Thống và ngỏ lời mời
ngài ra Hà Nội dự Ðại Hội Khóang Ðại của Giáo Hội Nhà
Nước vào trung tuần tháng 11này và cung thỉnh ngài lên ngôi
vị Pháp Chủ của Giáo Hội Nhà Nước …”
Hòa Thượng
cho biết sau khi viếng thăm đồng bào dân oan ngày 17- 7- 2007
tại Văn Phòng 2 Quốc Hội, ngài bị vu cáo, xuyên tạc, mạ
lỵ, cho ngài xúi dục, kích động dân oan biểu tình chống
chính phủ . . .
Hòa Thượng
nói “Giáo Hội đang trong tình cảnh trên đe dưới búa
như thế, thì một vài thành viên của GHPGVNTN Hải Ngoại tại
Hoa Kỳ về khuyên các thành viên của GHPGVNTN ở trong nước
nghỉ việc, lý do vì Giáo Hội còn ai theo nữa đâu, còn
xơ múi gì nữa mà làm việc, cũng
hệt như lời ông Nguyên Văn Hướng đã khuyên Ðức Tăng Thống
nghỉ việc như trên.”
Giáo Hội
đang trong tình cảnh trên đe dưới búa vì ông ông Nguyễn
Văn Hướng khuyên Ðức Tăng Thống nghỉ việc? Vì ông Trần
Tư ngỏ lời mời đức Tăng Thống tham dự Ðại Hội Khóang
Ðại, cung thỉnh ngài lên ngôi Pháp Chủ? Giáo Hội đang đứng
trước vực thẳm sinh tồn vì có vài thành viên của GHPGVNTNHN
tại Hoa Kỳ về khuyên các thành viên của Giáo Hội PGVNTN
trong nước nghỉ việc? Các thành viên hải ngoại nói Giáo
Hội không còn xơ múi gì nữa
(nguyên văn đúng như vậy)?
Hòa Thượng
Viện Truởng có kích động dân oan chống chính phủ không?
(mặc dầu kích động cũng tốt thôi, không có gì phải bào
chữa) Chúng ta hãy nghe lời tuyên bố của ngài: “Giáo
Hội chúng tôi cũng bị cướp đoạt tất cả mọi cơ sở,
từ giáo dục, từ thiện đến chùa viện . . . Họ biến nơi
thờ Phật thiêng liêng, có tính chất văn hóa, để biến ra
nơi du hí, giải trí và nơi
cho người ta phóng uế. Ðó là
nỗi nhục riêng cho Giáo Hội chúng tôi và chung cho phong hóa
văn minh của dân tộc. Chúng tôi đã từng khiếu kiện suốt
30 năm qua . . . Ðể cho hiện trang đang xẩy ra cho đồng bào
ở đây hôm nay không còn xảy ra nữa . . . thì buộc họ phải
trả lại cái quyền sống và quyền làm người cho ta. Muốn
như thế thì phải chấm dứt cái nạn độc quyền cai trị.
Phải đòi hỏi một chế độ đa nguyên, đa đảng, đại diện
đầy đủ cho 80 triệu dân. Chứ chỉ có một đảng thì không
thể giải quyết được gì cho 80 triệu dân. Như thế đã
là bất công rồi... Cái trước
mắt là vấn đề đòi lại công lý, là tài sản trả lại
cho đồng bào. Nhưng sau đó phải đòi lại nhân quyền và
dân chủ, tự do. Quan trọng nhất là tự do ngôn luận, để
người dân được tự do bày tỏ ý kiến của mình, quan điểm
của mình đối với những tổ chức cai trị.”
Hòa Thượng
Viện Trưởng cổ võ cho tư do ngôn luận, nhưng có người
khuyên - chỉ lời khuyên không mà thôi, nếu có - đức Tăng
Thống nghỉ việc, thì kết luận cho đó là đe, là búa. Vậy
ai dám nói gì, vậy cổ võ tư do ngôn luận để làm gì? Hòa
Thượng nói có vài thành viên của Giáo Hội Hoa Kỳ về khuyên
Hòa Thượng Thiện Hạnh từ chức theo lời báo cáo của Hòa
Thượng Thiện Hạnh. Hòa Thượng có cho điều tra sự việc?
Ðưa ra dự
kiện ông Nguyễn Văn Hướng khuyên đức Tăng Thống nghỉ
việc, ông Trần Tư mời đức Tăng Thống tham dự Ðại Hội
Khóang Ðại của Giáo Hội Nhà Nước, một vài thành viên
của Giáo Hội Hoa Kỳ khuyên các thành viên Giáo Hội Thống
Nhất trong nước nghỉ việc, để Hòa Thượng Viện Truởng
kết luận nói: “Thế thì hiển nhiên Giáo Hội đang ở
trong tình trạng nguy cấp, bị trong đánh ra, ngoài đánh vào.”Hòa
Thượng Viện Trưởng kết luận như vậy có đúng không? Một
lời khuyên mà làm cho Giáo Hội lâm vào tình trạng nguy cấp?
Một lời khuyên mà xem như là trên đe dưới bùa, trong đánh
ra, ngoài đánh vào? Phải chăng đây là một chính sách gây
sợ hãi (Policy of fear) để kích động quần chúng, lấy cảm
tình quần chúng, một kỹ thuật vận động dư luận mà các
nhà chính trị thường sử dụng?
Trong Huấn
Từ, Hòa Thượng Viện Trưởng nói tiếp: “Phải đối
phó ra sao? Chính vì thế mà phải sử dụng biện pháp cấp
bách, nghiêm trọng. Nó mạnh mẽ, đau đớn như một cuộc
phẫu thuật để cứu nguy lấy mạng sống của người bệnh.
Dẫu có phải cắt bỏ một vài bộ phận trong cơ thể cũng
phải hy sinh.”
Tại quốc
gia Hồi Giáo Pakistan, Tổng Thống Musharraf cũng nêu ra tình
trạng khẩn trương- mà thật sự khẩn trương vì những
phần tử Islam cực đoan nổ bom tự sát tại các thành phố
Pakistan, đặc biệt dọc theo biên giới Afghanistan và trong khi
tôi đang vết bài này (27- 12- 2007) thì bà Benazir Bhutto, cựu
Thủ Tướng, một nhà lãnh đạo dân chủ nổi tiếng của
Pakistan, vừa ở nước ngoài về lo việc tranh cử Quốc Hội
tổ chức vào ngày 8 tháng 1 năm 2008 sắp tới, đã bị tên
khủng bố bắn chết rồi nổ bom tự sát- ban hành tình
trạng khẩn trương ngày 3 tháng 11, 2007. Mặc dầu tình trạng
an ninh Pakistan vào những ngày qua có phần tồi tệ, nhưng lý
do chính mà Tổng Thống Pakistan ban hành lệnh khẩn trương
vì muốn loại bỏ Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện và các quan
tòa thuộc Tối Cao Pháp Viện đã cho việc đắc cử Tổng
Thống của tướng Musharraf là vi hiến vì ông khi ra ứng cử
không từ nhiệm Tổng Tư Lệnh quân đội Pakistan. Vậy nguyên
nhân chính đưa đến việc ban hành Giáo Chỉ và Thông Bạch
Hướng Dẫn thi hành Giáo Chỉ là gì? Chắc chắn không phải
vì những lời khuyên (nếu có), dù có đổ vào đó sức nặng
hằng trăm tấn? Nguyên nhân chính, theo chúng tôi tìm hiểu,
vì trong kỳ Ðại Hội Thường Niên năm nay (nến được diễn
ra như dự trù), chuẩn bị cho Ðại Hội Khóang Ðăị năm
2008, sợ các con gà nhà không được bầu vào những chức
vụ quan trọng trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
Hải Ngoại tại Hoa Kỳ!
Lệnh ban
hành tình trạng khẩn trương bị dân chúng phản đối, phản
ứng quốc tế không mấy thuận lợi. Tổng Thống Hoa Kỳ mặc
dầu xem Tổng Thống Musharraf là đồng minh đắc lực trong
việc chống lại quân khủng bố Al Qaeda và Taliban, nhưng cũng
không thể ủng hộ hành động của Tổng Thống Musharraf ban
hành lệnh khẩn trương vì đi ngược lại nguyên tắc căn
bản của dân chủ là Rule of Law. Khối Thịnh Vương Chung (The
Commonwealth) gồm 53 quốc gia thành viên trong phiên họp tại
Uganda ngày 22 tháng 11, 2007 đã bỏ phiếu ngưng chức hội viên
của Pakistan vì không tháo gỡ lệnh khẩn trương. Họ quan
niệm không thể hy sinh nguyên tắc dân chủ cho những mục
tiêu bằng biện pháp độc tài.
Khi ban hành
lệnh khẩn trương, Tổng Thống Musharraf tuyên bố vì sự sống
còn của quốc gia Pakistan mà ông phải làm vậy, vì sinh mạng
con người đôi khi phải cắt bỏ tay chân nhiễm độc, không
khác Huấn Từ của Ðại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ.
Vấn đề ở đây là sau cuộc phẫu thuật, chân tay bị mất
vĩnh viễn. Ðau hơn nữa là bác sĩ làm phẫu thuật đã lơ
là không nghiên cứu cặn kẽ báo cáo bệnh lý mà đã vội
vã làm phẫu thuật. Dầu sao hai nhà lãnh đạo Pakistan và Phật
Giáo Thống Nhất đã gặp gỡ nhau và cùng sử dụng một thứ
ngôn từ xúc động tình cảm.
Hòa Thượng
Viện Trưởng còn nói thêm: “Hay như một người mang đầy
vàng bạc trong mình đi trên bờ sông. Bỗng có bọn cướp
từ hai phía áp lại, tới nhắm giết người, cướp vàng bạc,
thì chủ nhân đành phải trút bỏ hết vàng bạc trong mình
mà nhảy xuống sông bơi sang bờ bên kia để thoát thân
.”Ở thí dụ này, Hòa Thượng muốn ám chỉ Hòa Thượng
là Giáo Hội. Hòa Thượng là người mang đầy vàng bạc trong
mình, bỗng bị bọn cướp từ hai bên, bọn cướp trong nước,
bọn cướp từ nước ngoài, xáp vào tấn công, nhắm tiêu
trừ Hòa Thượng, tiêu trừ Giáo Hội, cướp đi mạng mạch,
gia bảo muôn đời của Giáo Hội mà Hòa Thượng đang mang
theo, khiến Hòa Thượng phải nhảy xuống sông bơi sang bờ
bên kia để thoát thân, khiến Giáo Hội phải sử dụng biện
pháp biện pháp phẫu thuật. Câu chuyện thí dụ với lời
buộc tội nặng nề, lời lẽ nặng nề, nhưng cũng một phần
nào biểu lộ là ngài chỉ lo thoát thân, bỏ rơi vàng bạc,
bỏ rơi mạng mạch Phật Giáo mà Hòa Thượng có trách nhiệm
bảo quản. Hòa Thượng chỉ lo cho bản thân mình mà không
lo cho gia bảo của Giáo Hội, của Phật Giáo, chỉ lo bảo
vệ cái xác của Giáo Hội mà làm mất đi cái linh hồn của
Giáo Hội.
Sau khi ban
hành Giáo Chỉ số 9 và Thông Bạch Hướng Dẫn Thi Hành Giáo
Chỉ số 9 làm chấn động hàng Tăng Ni Phật tử khắp năm
châu. Ðể trấn an phần nào, Hòa Thượng nói trong bài Huấn
Từ: “Tóm lại, biện pháp đức Tăng Thống ban hành Giáo
Chỉ là chỉ nhằm cứu nguy Giáo Hội, chứ không nhắm bỏ
một tổ chức hay một nhóm người nào như có người cố
tình xuyên tạc.”
Chúng ta đọc
lại vài đoạn trong THÔNG CÁO BÁO CHÍ làm tại Paris ngày 26-
9- 2007:
“Paris,
ngày 26- 9- 2007- Từ Sàigòn, Văn Phòng Viện Hóa Ðạo, Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vừa gửi đến Phòng
Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế để phổ biến Thông Bạch Hướng
Dẫn thi hành Giáo Chỉ số 9 của Ðức Ðệ Tứ Tăng Thống
Thích Huyền Quang nhằm chấn chỉnh toàn bộ cơ cấu Giáo Hội
tại Hoa Kỳ, Canada, Âu Châu, Úc Châu và Tân Tây Lan.
“Thông
Bạch Hướng Dẫn Thi Hành Giáo Chỉ số 9 của Ðức Ðệ Tứ
Tăng Thống do Ðạo Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, Viện
Truởng Viện Hóa Ðạo, ký ngày 25- 9. Ðây là kết thúc sáng
suốt chấm dứt tình trạng gây rối nội bộ Phật Giáo nhằm
tiếp tay với nhà cầm quyền cọng sản trong âm mưu tiêu diệt
GHPGVNTN. Một tình trạng kéo dài gây hoang mang dư luận quần
chúng Phật tử trong và ngoài nước suốt nhiều năm qua . .
.
“May thay,
trong không khí ô nhiễm văn hóa và đạo đức làm hoang mang
dư luận Phật Giáo đồ và đồng bào các giới trong cũng
như ngoài nước. Giáo Chỉ số 9 của Ðức Tăng Thống Thích
Huyền Quang ban hành ngày 8- 9- 2007 gióng lên tiếng đại hồng
chung cảnh tỉnh. Và hôm nay, Thông Bạch Hướng Dẫn Thi Hành
Giáo Chỉ số 9 của Ðức Tăng Thống Thích Huyền Quang do Ðại
Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ công
bố phân rõ chính tà trong nội bộ Phật Giáo Hải Ngọai .
. .
“Thông
Bạch Hướng Dẫn Thi Hành Giáo Chỉ số 9 ra lệnh giải
tán các Giáo Hộị Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngọai
tại Hoa Kỳ, Canada, Âu Châu, Úc Châu và Tân Tây Lan ra đời
từ năm 1992 theo Quyết Ðịnh số
27 nay đã hủy bỏ và thay thế bằng Giáo Chỉ số 9, đồng
thời giao phó cho Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo thành lập các
GHPGVNTN-HN tại các châu với thành phần trung kiên không chịu
thỏa hiệp với thế quyền Cọng Sản để bán đứng Giáo
Hội và phản bội dân tộc . . .”
Ở trên là
vài đoạn trong THÔNG CÁO BÁO CHÍ”của Phòng Thông Tin Phật
Giáo Quốc Tế. Sau đây là vài Ðiều trong 12 Ðiều của THÔNG
BẠCH HƯỚNG DẪN:
“Ðiều
3: Giải tán các Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
Hải Ngọai tại Hoa Kỳ và GHPGVNTN-HN tại các Châu được
hình thành theo Quyết Ðịnh số 27- VPLV/VHÐ do Quyền Viện
Truởng Viện Hóa Ðạo ban hành ngày 10- 12- 1992. Quyết Ðịnh
này đã hủy bỏ và thay thế bằng Giáo Chỉ số 09/VTT/GC/TT
của Ðệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8-
9- 2007.
“Ðiều
4: Chủ Tịch và các thành viên Văn Phòng II Viện Hóa
Ðạo cấp tốc triệu tập Ðại Hội trong thời gian sớm nhất
để thành lập Hội Ðồng Giáo Phẩm và Hội Ðồng Ðiều
Hành GHPGVNTN- HN tại Hoa Kỳ theo tinh thần Giáo Chỉ số 09/VTT/GC/TT
của Ðệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang ban hành ngày 8-
9- 2007 và theo nội dung Thông Bạch Hướng Dẫn Thi Hành Giáo
Chỉ số 09 của Ðức Tăng Thống mang số 09/VHÐ?TB/VT do Viện
Truởng Viện Hóa Ðạo ký ngày 25- 9- 2007
“Ðiều
5: Chủ Tịch và các thành viên Văn Phòng II Viện Hóa
Ðạo kết hợp với các Tổng Ủy Viên Ðặc Trách Liên Lạc
Úc Châu & Tân Tây Lan, Châu Âu và Canada triệu tập Ðại
Hội trong thời gian sớm nhất để thành lập Hội Ðồng Giáo
Phẩm và Hội Ðồng Ðiều Hành GHPGVNTN-HN tại Úc Châu &
Tân Tây Lan, Châu Âu và Canada theo tinh thần Giáo Chỉ số 09/VTT/GC/TT
của Ðức Ðệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang ban hành ngày
8- 9- 2007 và theo nội dung Thông Bạch Hướng Dẫn Thi Hành Giáo
Chỉ số 09 của đức Tăng Thống mang số 09/VHÐ/TB/ VT do Viện
Truởng Viện Hóa Ðạo ký ngày 25- 9- 2007.
“Ðiều
6: Sau khi thành lập GHPGVNTN-HN tại các Châu Lục qui định
tại Ðiều 4, 5, thành phần nhân sự các Hội Ðồng Giáo Phẩm
và Hội Ðồng Ðiều Hành phải được trình lên Viện Hóa
Ðạo để duyệt xét và chuẩn nhận trược khi có hiệu lực
hoạt động.
Với những
viện dẫn trên, thế mà Hòa Thượng Viện Truởng lại nói
“không loại bỏ một tổ chức hay một nhóm người
nào, như có người cố tình xuyên tạc.”Nhưng rồi
Hòa Thượng lại mâu thuẫn ngay trong lời biện bạch: “Tôi
thiết tưởng trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng đối với
Giáo Hội như hiện nay, thì bất cứ tổ chức hay cá nhân
nào, nếu muốn tồn tại, thì cũng phải sử dụng biện pháp
mạnh như Giáo Hội vậy thôi”. Về điểm này, cũng như
về Bản Phúc Trình của Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh và
việc ban hành Giáo Chỉ số 9, ban hành Thông Bạch Hướng Dẫn
Thi Hành Giáo Chỉ số 9 tôi xin trích một vài đoạn trong bức
thư gửi Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh, nhan đề “Nhận
Ðịnh về vai trò và Bản Phúc Trình của vị Chánh Thư Ký
Viện Tăng Thống GHPGVNTN và bài Giáo Chỉ, Thông Bạch và Cơn
Khủng Hoảng của Phật Giáo Việt Nam tại Hải Ngọai của
8 vị Hòa Thượng thuộc Hộị Ðồng Giáo Phẩm và Hội
Ðồng Ðiều Hành (cũ) của GHPGVNTN-HN tại Hoa Kỳ (cũ):
Sau khi trình
bày, phân tích một cách căn kẽ, bức thư của Nhóm Tăng Ni
Hải Ngoại gửi Hòa Thượng Thiện Hạnh (trong phusaonline free
fr Phat Hoc/Tin Tuc/GHTN/29 ThuguiHoathuong ThienHanh.htm) tóm tắt:
“Kính bạch Hòa Thượng, Qua 3 trường hợp và 9 điểm
phân tích ở trên, có thể nói rằng Bản Phúc Trình Phật
Sự của Hòa Thượng từ hình thức đến nội dung, hoàn toàn
sai nguyên tắc hành chánh, và tai hại nhất là đi ngược với
tinh thần giới luật căn bản của đạo Phật “. . . Bức
thư kết luận: “Thưa Hòa Thượng, Giáo Hội không phải của
riêng ai dù người đó đã có công bảo vệ hay xây dựng.
Giáo Hội là sự kết thành tâm nguyện, chí hướng, hoài bão
và cả sinh mệnh của toàn khối Tăng Ni và Phật tử từ quá
khứ, hiện tại, đến tương lai. Không ai có thể nhân danh
công lao hay thành tích cá nhân mà phủ nhận những thành ý
xây dựng, đóng góp của kẻ khác, cũng không ai có thể nhân
danh quyền hạn tối cao nào đó mà xóa bỏ Hiến Chương, phá
nát Nộp Qui sinh hoạt của Giáo Hội. Hiến Chương là tiêu
hướng, là cốt tủy, từ đó vạch con đường dài lâu của
Giáo Hội đối với Ðạo Pháp và Dân Tộc. Bỏ cái lâu dài,
thờ cái nhất thời, chẳng phải là cố tình tiêu diệt Giáo
Hội hay sao! Giáo Hội có vững mạnh, thống nhất và tồn
tại hay không là do nơi sự đồng tâm hiệp lực hoàng dương
Chánh Pháp của toàn thể Tăng Ni và Phật Tử, chứ không phải
ở những “biện pháp”vá víu và đầy thiên kiến của một
cá nhân, hay một thiểu số chủ động nắm quyền.
“Còn
giữ được sự thanh tịnh và hòa hợp, còn giữ được lý
tưởng hòa bình và hoài bão phục vụ nhân loại và dân tộc
như Lời Mở Ðầu của Hiến Chương, thì Giáo Hội còn; phá
hủy hết những tiêu chỉ cao đẹp ấy, Giáo Hội chỉ còn
là một cái xác không hồn, dù trung kiên hay không trung kiên,
cũng chẳng còn lý do gì để tồn tại.
“Dài
dòng trình bày những nhận định ở trên vẫn chưa nói hết
được thành ý xây dựng đối với Hòa Thượng cũng như đối
với tiền đồ của GHPGVNTN. Chỉ mong Hòa Thượng tịnh tâm,
tịnh ý nhìn lại những gì đã làm, đã nói, trong những năm
tháng nắm giữ chức vụ Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống. Ðừng
để lịch sử ghi vết nhơ của Giáo Hội mà trong đó có sự
dự phần của Hòa Thượng . . . “
Trong bài
Giáo Chỉ, Thông Bạch và Cơn Khủng Hoảng của Phật
Giáo Việt Nam tại Hải Ngọai đăng trong Nguyệt San
Văn Hóa tháng 11- 12, 2007, 8 vị Hoa Thượng nói lên 6 chuyện
kỳ lạ xảy ra cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhật
tại Hải Ngọai qua Giáo Chỉ, Thông Bạch Hướng Dẫn Thi Hành
Giáo Chỉ và Bản Phúc Trình Phật sự:
“Kỳ
lạ thứ nhất là ngôn phong của những bản văn trên. Chỉ
cần bỏ đi mấy chữ Giáo Hội, Tăng Thống, Viện Trưởng
. . . là người đọc tưởng như của một đảng chính trị
bí mật nào. Sắc sảo như một thứ vũ khí của miệng lưỡi,
ngôn từ; quyết liệt đến không một chút bao dung, khoan nhượng
bất kỳ ai và ý kiến nào khác biệt...
“Kỳ
lạ thứ hai là Giáo Chỉ, Thông Bạch đến Phúc Trình đều
là của những vị ở trong nước, đang bị nhà cầm quyền
kiểm soát, giới hạn thông tin trong khi nội dung của chúng
lại là để quyết định số phận của các Giáo Hội Thống
Nhất ở hải ngoại mà đại đa số các vị lãnh đạo và
thành viên của các Giáo Hội lại hoàn toàn không hề hay biết,
không hề được chia xẻ tin tức, trao đổi, thảo luận nào
dù ngay cả ở thượng từng lãnh đạo và trong vòng bí mật
. . .
“Kỳ
lạ thứ ba là dù Giáo Chỉ không nói rõ, nhưng Thông Bạch
Hướng Dẫn Thực Thi Giáo Chỉ thì khẳng định rõ ràng dứt
khoát đến không thể hiểu khác đi được dù muốn giải
thích, biện bạch quanh co đến đâu, đó là “Giải tán các
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngọai tại
Hoa Kỳ và các Châu Lục”để “thiết lập một Văn Phòng
II Viện Hóa Ðạo mới và các GHTN mới. Chuyện thiết lập
cái mới là quyền tự do của quí vị lãnh đạo cũng như
của bất cứ ai muốn làm; nhưng chuyện giải tán thì làm
sao lại có thể thực hiện khi quí vị lãnh đạo ở trong
nước- dù ở ngôi cao đến đâu- đã không đứng ra thành
lập, không nắm quyền pháp lý và không hề có tư cách pháp
nhân gì đối với các tổ chức Giáo Hội này . . . Làm sao
có thể giải tán những cái không phải do chính mình tạo,
không phải của mình làm và hoàn toàn không thuộc của mình?
. . .
“Kỳ
lạ thứ tư là trong khi lộng ngôn giải tán các tổ chức
GHTN ở Hải Ngọai thì Giáo Chỉ và Thông Bạch Hướng Dẫn
Thực Thi Giáo Chỉ này và các văn bản liên quan lại hàm ý
khẳng định và kết án một số phần tử trong các Giáo Hội
này và cả trong Phật Giáo Việt Nam ở hải ngoại cùng với
một vài vị ở trong nước đã làm biến tướng, quay lưng
lại GHTN truyền thống, đã trở thành quốc doanh, hợp tác
và làm tay sai cho CSVN mà hoàn toàn không đưa ra một bằng
chứng nào, ngoài Bản Phúc Trình của vị Chánh Thư Ký Viện
Tăng Thống đang trong tình trạng cô lập ở Huế. Chỉ một
lời kết án vu vơ như thế nằm trong văn bản chính thức
của một tổ chức như GHTN trong nước cũng đủ khiến cho
sinh mạng của đối tượng kết án ở hải ngoại bị đe
dọa, nhất là khi lòng hận thù cọng sản bị khích động.
Tác giả của những lời kết án này, hoặc vô ý thức và
vô trách nhiệm đến thế, hoặc là cố ý để cố tình hại
người đến thế, cả hai đều là chuyện kỳ lạ khó tin
đến phải bàng hoàng sửng sốt khi nó được ấn ký bởi
các vị cao cấp nhất của Giáo Hội trong nước.
“Kỳ
lạ thứ năm là việc kết án một số phần tử nói trên
lại đi kèm với việc thỉnh cử 14 vị vào Văn Phòng II Viện
Hóa Ðạo mới và trong 14 vị ấy có những vị mới từ Việt
Nam qua chưa có thẻ xanh. Thủ thuật đó đuợc sử dụng để
khiến cho kẻ nhẹ dạ tin rằng ngoài 14 vị đó ra, hầu hết
các thành viên còn lại của Giáo Hội này và cả Phật Giáo
Việt Nam ở hải ngoại đều trở thành “quốc doanh”, “hợp
tác”và “làm tay sai cho CHVN”hết cả…
“Ðạp
kẻ khác xuống cho mình đi lên, thế gian không phải là không
có. Nhưng đạp một người đã từng hy sinh cho mình thì ngay
cả những kẻ tham tàn độc ác cũng khó nhẫn tâm mà làm.
Ðạp cả một tập thể những người đã hy sinh cho mình thì
thế gian này quả chưa từng thấy. Ðap luôn cả một Giáo
Hội xuống bùn đen, bất chấp đến sinh mệnh của Phật Giáo
thì chỉ có kẻ xem Phật Giáo như kẻ thù mới làm – mà
chưa chắc làm được- mà thôi . . .
“Kỳ
lạ thứ sáu là trước, trong và sau khi công bố những bản
văn chính thức này thì đã có không ít những tin tức vô
căn cứ và các bài viết ký đủ mọi thứ tên để bôi lọ,
đả kích, kết án người này, người nọ là thân cọng, là
đầu hàng, làm tay sai cho cọng sản . . . Ðây không phải là
chuyện kỳ lạ ở thế gian. Kỳ lạ đáng nói là cái nguồn
gốc Phật Giáo liên quan đến GHTN của nó. Ai lại có thể
tưởng tượng cái thứ chiến dịch nước lũ, dối trá, lường
gạt dư luận trắng trợn đó lại có thể xuất phát từ
những người nắm quyền trong một tổ chức mang danh là Phật
Giáo?”
Bản phân
tích, nhận định dài 12 trang đánh máy, kết luận:
“Người
ta nói chúng tôi là vô lễ, bất kính với lãnh đạo khi bất
tuân Giáo Chỉ, Thông Bạch và khi bày tỏ những ý kiến của
mình. Chúng tôi không nghĩ thế. Bởi vì, trên tất cả, Ðức
Phật không bao giờ dạy chúng tôi cứ cúi đầu khâm tuân,
nhắm mắt tin theo những lời nói của bất cứ một ai mà
không suy xét cho tận tường. Huống chi, đó là là những lời
gian dối, đã và đang gây nên bao tổn hại cho Phật Giáo.
. .
“Trong
chỗ tận cùng của lương tâm, chúng tôi biết mình vì đâu
mà phải lên tiếng. Cũng trong chỗ tận cùng của lương tâm
đó, chúng tôi, xin vì tất cả mà chấp nhận mọi điều tệ
hại có thể xảy ra cho bản thân, chỉ để mong cho Phật Giáo
Việt Nam được trường tồn và phát triển với tất cả
giá trị chân thật của nó; và cho dân tộc Việt Nam sớm
được sống với tự do, dân chủ đích thực - ước vọng
chân chính của mọi công dân nước Việt ngày nay.”
Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất trước đây đang đi trên con đường
rộng thênh thang, thì giờ đây đi trên nẻo đường chật
hẹp. Từ một tổ chức kết hợp mọi truyền thống Phật
Giáo, dung hợp mọi quan điểm xây dựng đạo pháp, trở thành
một Giáo Phái của một số người, tự cho mình là chính
chuyên. Ðạo Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ từ một nhà
tu đạo hạnh, uyên bác, biên soạn Phật Học Ðại Từ
Ðiển, Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Tiểu Thừa
Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Ðại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng
Luận, một nhà sư kiên cường, bất khuất, dần dần biến
thành một nhà an bang, tế thế với Lời Kêu Gọi Dân Chủ,
chương trình chính trị 8 điểm năm 2001, đến nhà tuyên truyền
cho Tự Do, Dân Chủ, Ða Nguyên, Ða Ðảng cầm ống loa cổ
võ Dân Oan , đến nhà độc tài muốn cai trị thế giới Phật
Giáo bằng cách triệt hạ các tổ chức Phật Giáo năm châu,
thành lập Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo với 14 thành viên trung
kiên
Hòa Thượng
Viện Trưởng cùng chư tôn đức trong Viện Hóa Ðạo ngày
17 tháng 7 năm 2007 trước hàng nghìn dân oan bị đuổi nhà,
cuớp đất hàng chục năm qua, cầm ống loa yểm trợ tinh thần,
tuyên bố: “. . . Cái trước mắt là vấn đề đòi lại
công lý, là tài sản trả lại cho đồng bào. Nhưng sau đó
phải đòi lại nhân quyền và dân chủ tự do. Quan trọng nhất
là tự do ngôn luận để người dân được tự do bày tỏ
ý kiến của mình, quan điểm của mình, đối với những tổ
chức cai trị.”Hòa Thượng nói với dân thì thế, nhưng
với người đồng đạo, ngay cả với những người bấy lâu
sát cánh đấu tranh đòi quyền phục hoạt của Giáo Hội lại
cấm không được nói điều gì, dầu chỉ là một lời khuyên!
Không đọc, không cứu xét những lời đề nghị trong các
văn kiện chư tôn đức gửi về!
Ðặc tính
của dân chủ là hạn chế hành động chính phủ để bảo
đảm quyền hạn của cá nhân và đoàn thể bằng phương thức
tuyển chọn người lãnh đạo một cách ôn hòa, bằng cơ cấu
dân sự đại diện cho quần chúng, đặc biệt bằng thái độ
hòa hoãn, uyên chuyển và sẵn sàng chấp nhận những ý tưởng
khác biệt, những thí nghiệm mới. Hạn chế quyền hành của
chính phủ không những không chấp nhận chính phủ xen vào
đời tư của cá nhân hay đoàn thể mà nhân viên chính phủ,
cũng như những thường dân khác, phải tôn trọng luật pháp
và chỉ sử dụng quyền hành được luật pháp cho phép.
Thay đổi người lãnh đạo bằng phương thức bầu cử liên
quan đến hệ thống đảng phái đưa người ra tranh cử và
hệ thống liên lạc giao tiếp giữa cử tri và ứng cử viên.
Sự lựa chọn theo thể chế dân chủ phải được tư do. Ðường
lối chính sách được trình bày cho dân chúng biết. Cử tri
có quyền biết rõ quan điểm, lập trường, khả năng, quá
trình hoạt động. Phương tiện truyền thông phải được
độc lập và tư do. Vì vậy quyền tự do ngôn luận, tự do
hội họp, tự do liên kết được xem như là những quyền
tự do căn bản trong một thể chế dân chủ.
Muốn cho
thể chế dân chủ hữu hiệu đòi hỏi không những các định
chế, sự đảm bảo mà còn thái độ nữa: phải biết tôn
trọng quan điểm của người khác, dù quan điểm ấy hoàn
toàn chống đối với mình, dù quan điểm ấy có vẻ phi lý,
nhưng đó là nền tảng của dân chủ. Thái độ này được
diễn đạt như sau: Tôi hoàn toàn không đồng quan điểm của
bạn, nhưng tôi sẽ tranh đấu cho đến cùng để bảo đảm
quyền phát biểu ý kiến của bạn. Không gì quan trọng cho
bằng thái độ hòa hoãn của chúng ta đối với người khác
trong một xã hội dân chủ. Những phương thức kiểm duyệt,
thiết quân luật, tình trạng khẩn trương ngay cả áp lực
xã hội đều đi ngược lại cách sinh hoạt dân chủ.
Dân chủ
cũng đòi hỏi phải tôn trọng thiểu số và quyền hạn cá
nhân, dùng lý luận để thuyết phục chứ không phải dùng
quyền uy để trấn áp. Dân chủ có những đối tượng, có
những lý tưởng, nhưng không có mục tiêu định sẵn. Những
đối tượng, những lý tưởng này tiến hành tuần tự qua
kinh nghiệm thành công, thất bại, qua thay đổi chương trình
cho phù hợp với hoàn cảnh, môi trưởng và ước vọng quần
chúng.
Ðiều
3, 4, 5, 6 trong Thông Bạch Thi Hành Giáo Chỉ đều đi trái nguyên
tắc dân chủ.
Những
lời trình bày trên lẽ dĩ nhiên không phải chống đối Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, không phải chống đối
Hòa Thượng Viện Trưởng, nhưng không đồng ý phương thức
làm việc của Hòa Thượng Viện Trưởng và có phần dè dặt
về phong độ của ngài.
Cuộc viếng
thăm dân oan gây nhiều sóng gió ấy các cơ quan thông tin của
Giáo Hội PGVNTN diễn đạt: “Vì Giáo Hội thể hiện đức
từ bi của đạo Phật góp phần cứu trợ vật chất cho tập
thể Dân Oan đi khiếu kiện, bị thiếu thốn lương thực.
Các cuộc cứu trợ thuần túy từ thiện xã hội được
thực hiện công khai ngày 13- 7 và 17 tháng 7 tại Sàigòn và
ngày 23 tháng 8 tại Hànội . . .”
Giáo Hội
Phật Giáo Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ, nhắc đi nhắc
lại câu cứu trợ thuần túy xã hội. Chư Tổ nói “Y kinh
giải nghĩa tam thế Phật oan . . .”(Dựa vào văn tự của
kinh để giải thích huyền nghĩa Phật Pháp chỉ làm thương
tổn cho chư Phật ba đời). Giờ đây từ ngữ kia còn thiêng
liêng hơn lời kinh, nên phải khâm tuân từng chữ, từng lời,
nếu không khâm tuân là bất nghĩa, bất trung. Ðiểm này chúng
ta thấy trong bài Diễn Văn Khai Mạc Ðại Hội Bất Thường
của Hòa Thượng Thích Hộ Giác. Hòa Thượng tuyên bố: “Việc
làm của Giáo Hội không phải vì sự khen chê nhất thời,
cũng không phải chỉ nhắm đáp ứng nhu cầu mang tính giai
đoạn chắp vá mà chính là sự thừa đương, xuất phát thể
mệnh và sự nghiệp hoằng hóa của chư Phật và lịch đại
Tổ Sư”… Thế nhưng trong Thông Tư triệu tập Ðại Hội
Bất Thường, Hòa Thượng Thích Hộ Giác đưa lý do “.
. . Ðứng trước nguy cơ Giáo Hội bị hủy diệt . . . trước
hiện tình pháp nạn bức thiết tại quốc nội. Ðại Hội
Bất Thường của GHPGVNTNHNHK/ VPIIVHÐ sẽ được triệu tập
tại . . .”Như thế này Ðại Hội Bất Thường không nhằm
đáp ứng nhu cầu mang tính cách giai đoạn...?
Và đặc
biệt Hòa Thượng cũng lặp lại những lý do làm cho Giáo Hội
có nguy cơ hủy diệt, những lý do mà Hòa Thượng Thiện Hạnh
ghi trong Bản Thường Thuật dựa vào những cú điện thoại
không kiểm chứng, vào lời khuyên (nếu có) Hòa Thượng từ
chức . . . Hòa Thượng Thích Hộ Giác, Chủ Tịch Văn Phòng
II Viện Hóa Ðạo nói tiếp: “Ngay từ thuở bình minh lập
quốc, cứu quốc và kiến quốc, đạo pháp và dân tộc đã
gắn bó hài hòa như bóng với hình, đã đồng hành với vận
mệnh thăng trầm nhục vinh của lịch sử đất nước. Có
thể nói, lịch sử Phật Giáo Việt Nam là lịch sử của dân
tộc Việt”.
Sự gắn
bó hài hòa ấy giờ đây thực sự có được tiếp tục duy
trì, khai triển? Hay đây cũng chỉ là sáo ngữ mà phải khâm
tuân lặp đi lặp lại?
Ðể nói
lên lòng dạ trung kiên, muốn ám chỉ những người khác bất
hiếu, bất trung, Hòa Thượng Hộ Giác mượn lời người xưa:”Gia
bần tri hiếu tử, quốc loạn thức trung thần”, lập
lại lời nói vu vơ, thiếu cẩn trọng, vô trách nhiệm,
đầy xúc phạm của Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh khi ngài
viết trong Bản Phúc Trình và những đề nghị gửi Viện Hóa
Ðạo: “Những cá nhân hoặc nhân danh tập thể, không còn
giữ được lòng trung kiên với Giáo Hội, cũng nên tạo điều
kiện để các vị được rút lui, không nên cầm giữ làm
gì, ít cũng được, ít mà lòng trung thành, chí kiên hậu,
còn hơn nhiều mà bất trung, bất nghĩa. . .”Họ đã làm
gì mà gọi là không trung kiên, bất trung, bất nghĩa? Suốt
bao nhiêu năm trời gắn bó với Giáo Hội, giờ đây chỉ dựa
vào vài cú điện thoại lại có thể phán quyết như vậy,
những lời phán quyết phi lý, nặng nề, tàn nhẫn với một
tập thể trong đó có những người lớn tuổi hơn mình, phục
vụ Giáo Hội lâu năm hơn mình?
Với người
Việt Nam trọng hiếu đễ, trọng trung nghĩa, những lời phán
quyết trên thật rất nặng nề. Hòa Thượng Chánh Thư Ký
có thể phán quyết như vậy với hàng đệ tử của mình,
với con cháu mình mà không có bằng chứng , không có lời
biện hộ? Phán quyết cho họ là bất trung bất nghĩa, rồi
quảng bá khắp nơi đòi trục xuất chúng ra khỏi dòng họ,
ra khỏi nhà không phải do mình kiến tạo? Hòa Thượng nếu
có con có cháu, Hòa Thượng có làm như vậy không? Làm như
vậy có oan cho con cho cháu không? Tại sao Hòa Thượng có thể
làm như vậy với người đồng đạo? Giờ đây Hòa Thượng
Thích Hộ Giác cũng khâm tuân, lặp lại luận điệu trên mà
không biết có đi sâu vào quan niệm trung hiếu của người
xưa?
Hiếu đạo
của người Trung Hoa, theo câu mở đầu của Hiếu Kinh là:
“Thân thể phát phu, thọ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương,
hiếu chi thủy dã. Lập thân hành đạo, dương danh ư hậu
thế, hiếu chi chung dã”. Nếu vậy các nhà sư Phật Giáo
đều là bất hiếu, vì đã cạo râu tóc, các người theo Phật
Giáo đều bất hiếu vì xem thế sự như phù vân? Chắc chắn
chữ hiếu mà Hòa Thượng Hộ Giác trích dẫn trên không phải
chữ hiếu theo Hiếu Kinh của Nho Giáo.
Còn chữ
hiếu trong đạo Phật? Kinh Hiếu Tử nói: “Cúng dường
cha mẹ không gì bằng khuyên cha mẹ làm việc lành, bỏ việc
ác.”Gọi là hiếu là phải khuyên cha mẹ bỏ ác làm lành,
nếu không cải hóa cha mẹ, phụng sự Tam Bảo, thời tuy có
hiếu dưỡng cha mẹ, cũng gọi là bất hiếu. Ðức Phật dạy:
“Làm con phụng dưỡng cha mẹ, dùng trăm vị cam lồ dâng
cúng cha mẹ, dùng thiên nhạc vi diệu làm vui lòng cha mẹ,
dùng sắc phục tôn quí nhất chói sáng thân cha mẹ, hai vai
tự cõng cha mẹ đi cùng khắp bốn biển, trọn đời đáp
ân nuôi dưỡng cha mẹ, như vậy chưa gọi là hiếu. Cha mẹ
ngu si không kính thờ Tam Bảo, hung ngược dâm dật, ngụy biện
trái đạo . . . người con phải hết sức cản ngăn, mới gọi
là hiếu.”(Kinh Hiếu Tử). Cảnh Sách viết: “Muốn
báo ơn cha mẹ, nên khuyên cha mẹ đối với Phật, Pháp,
Tăng, đối với pháp nhân quả v.v. . . cha mẹ chưa tin, khuyên
cha mẹ tin; cha mẹ tin rồi, khiến lòng tin tăng trưởng; cha
mẹ không giữ tịnh giới, khuyên giữ tịnh giới; cha mẹ
có lòng xan tham, khuyên việc làm huệ thí; khéo an trú để
tự điều phục. Như vậy mới gọi là chân thực báo ơn cha
mẹ.”Chắc chắn theo chữ hiếu của đạo Phật không
có nghĩa khâm tuân những lời phán quyết phi lý, tàn nhẫn
, bất chính?
Thế nào
gọi là trung? Thế nào là một trung thần? Mạnh Tử khai triển
đạo lý trung tín, lấy dân làm căn bản, xem dân là nền tảng,
thâu gọn trong câu: “Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân
vi khinh.”Dân là căn bản, xã tắc là thứ yếu, quốc
vương không mấy quan trọng.. Chữ trung của thần, của dân
đối với vua không phải là lòng trung thành mù quáng. Kinh
Thư nói: “... Nhà cầm quyền gây sự căm thù, tích tụ
lòng oán hận của dân là tự tách mình ra khỏi trời.”Ðạo
lý trung tín lúc đầu như vậy, nhưng từ khi Lưu Bang lên làm
vua vào thời Hán, đặc biệt dưới thời Tống-Nguyên-Minh,
để củng cố uy quyền của nhà vua, đạo lý trung hiếu được
diễn dịch một cách triệt để hầu như vô điều kiện:
“Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung “, trong
khi thuyết Chính Danh của Khổng Tử có quan hệ hai chiều:
quân có nhân thì thần mới trung, phụ có từ thì tử mới
hiếu. Không biết Hòa Thượng Hộ Giác trọng dân “Dân Vi
Quí”hay trọng vua “Quân xử thần tử, thần bất tử bất
trung”?
Chu Vũ Vương,
571 năm trước Khổng Tử, giết vua Trụ, chặt đầu vua Trụ
treo trên cột cờ, theo Khổng Tử không phải là hành động
của một loạn thần mà của nhà nghĩa dũng. Mạnh Tử cắt
nghĩa trường hợp của nhà Chu như sau: Vua Trụ mất ngôi vì
bất xứng, vì tàn ác, vì cai trị trái lệnh trời. Cái chết
của vua Trụ là cái chết của một ác nhân, không phải là
cái chết của một vị vua, là hình phạt trời giáng xuống,
qua sự phẫn nộ của dân, được các hiền tài thi hành sứ
mạng. (Mạnh Tử tập I, phần II, Ch. VIII: “Tề Tuyên Vương
vấn viết: Thang phóng Kiệt, Vũ Vương phạt Trụ, hữu chư?
Mạnh Tử đối viết: Ư truyện hữu chi. Viết: Thần thí kỳ
quân, khả hồ? Viết: Tặc nhân giả vị chi tặc, tặc nghĩa
giả vị chi tàn. Tàn tặc chi nhân vị chi thất phu. Văn tru
thất phu Trụ, vị văn thí quân dã”(Tạm dịch:Tề Tuyên
Vương hỏi: Vua Thành Thang đuổi vua Kiệt, Vũ Vương phạt
vua Trụ, những chuyện đó có không? Mạnh Tử trả lời: Theo
sách vở chép lại thì có. Hỏi: Bề tôi giết vua có
được không? Ðáp: Kẻ làm trái điều nhân gọi là tặc,
kẻ làm trái điều nghĩa gọi là tàn. Người tàn tặc là
kẻ thất phu. Tôi chỉ nghe chuyện giết một kẻ thất phu
tên Trụ, chứ chưa nghe chuyện giết vua bao giờ.)
Hòa Thượng
Thích Hộ Giác bấy lâu nổi tiếng là nhà sư hiền hòa, dung
dị, là một Tăng sinh xuất sắc, người Việt đầu tiên thi
đậu hạng nhất vào trường Cao Ðẳng Phạn Ngữ của Hoàng
Gia Miên và thi ra trường cũng đứng đầu, thì giờ đây khi
làm Chủ Tịch Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo, Chủ Tịch Hội
Ðồng Ðiều Hành lại không quan tâm đến những lời trình
bày tha thiết của các Tổng Vụ Trưởng mà chỉ biết trung
trung cẩn cẩn với cấp trên. Sách Luận Ngữ, tập VII, Chương
VII nói: “Không có Lễ, nhã nhặn trở thành ngạo nghễ,
dè dặt trở thành thụ động, can đảm trở thành liều lĩnh,
chánh trực trở thành hung bạo.”
Khi Khổng
Tử làm quan tòa xử vụ án cha kiện con tại nước Lỗ. Khổng
Tử ra lệnh bắt người con giam để cứu xét. Vụ án kéo
dài ba tháng. Nhận thấy người con không phạm tội, Khổng
Tử tha bổng người con, bị thiên hạ đàm tiếu là không
chuyên nhất vì từng chủ trương “hiếu đễ vi tiên”,
bây giờ lại tha bổng người con bất hiếu. Khổng Tử nói
một cách buồn bã: “Than ôi! Làm thế nào có thể trừng
phạt dân chúng phạm tội, trong khi chính phủ không tuân hành
luật pháp? Khi dân chúng không được giáo dục về luật pháp,
tại sao ta lại phạt họ? Khi một đội quân bị thất trận,
ta có nên trừng trị binh lính? Hay phải trị những kẻ xao
lãng việc huấn luyện binh sĩ? Nếu dân chúng không được
giáo dục thì dù có phạm tội, họ cũng trở thành kẻ vô
tội. Người con gọi là bất hiếu kia, phải chăng đã không
được người cha giáo dục, huấn luyện hẳn hoi. Tội ở
người con?
Tuân Tử
(Tuân Tử tập XXVIII) giải thích quan điểm trên như sau: “Soạn
thảo qui luật một cách rườm rà và cẩu thả, rồi áp dụng
qui luật ấy một cách máy móc để trừng trị những kẻ
phạm luật một cách nghiêm khắc, đó là hành động chuyên
chế. Ðánh thuế dân một cách bất công là độc tài. Bắt
dân chúng làm những gì họ không được hướng dẫn là hung
bạo. Trừ khi ba dự kiện trên (chuyên chế, độc tài, hung
bao không có, hình luật mới có thể được áp dụng. . . Vì
vậy các nhà hiền triết xưa, trước hết phải tu thân, sau
giáo hóa dân chúng bằng đạo đức. Nếu họ cảm thấy không
đủ đức hạnh, họ phải nhờ các bậc hiền tài giúp đỡ.
Khi họ thấy tu thân, chính tâm vẫn chưa đủ để cai trị,
họ mới soạn thảo luật pháp, ban hành sắc lệnh, sử dụng
tòa án khiến dân sợ hãi phải tuân thủ luật pháp. Chính
phủ bỏ ba năm giáo dục dân chúng. Sau ba năm nếu có người
phạm pháp, các nhà hiền triết xưa mới áp dụng biện pháp
trừng trị. Trong vòng ba năm được giáo dục, dân chúng biết
những gì là phải, những gì là trái, những gì là phạm luật,
những gì không phạm luật. Nói tóm lại, theo Khổng Tử trong
Luận Ngữ tập XX, Ch. II, thì hình phạt không giáo dục
là chuyên chế (Tử viết: Bất giáo nhi sát vị chi ngược.
Bất giới thị thành vị chi bạo. Mạn lệnh, trí kỳ vị
chi tặc. Do chi dữ nhân dã, xuất nạp chi lận, vị chi hữu
tư”.Tạm dịch: Khổng Tử nói: “Không dạy dỗ dân mà
đem áp dụng tử hình là ngang ngược. Không hướng dẫn tỉ
mỉ mà mong dân hoàn thành trách nhiệm là hung bạo. Ra lệnh
bừa bãi bắt dân gấp rút thi hành là giặc Ban cho người
mà còn do dự, phát ra thu vào một cách bỏn xẻn là hành động
cần phải xét lại”)
Ở đây chưa
xử án mà đã gán cho tội phạm luật, vậy dùng danh từ gì
để diễn đạt?
Ðức Phật
dạy: “Này các con, khi các con nghe những điều gì mà người
ta nói là do Phật nói, nhưng nếu các con nghiệm thấy không
đúng chân lý, thì các con chớ tin. Ngược lại, khi các con
tìm ra điều gì không nằm trong kinh điển Phật Giáo, mà các
con nhận thấy đúng, thì các con nên tin theo.”Ðạo Phật
chủ trương sống đúng theo sự thật và tôn trọng sự thật,
tôn trong công ích, mang lại an vui và hạnh phúc cho người.
Những
lời trình bày trên lẽ dĩ nhiên không chống đối Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngọai tại Hoa Kỳ, không
chống đối Hòa Thượng Thích Hộ Giác mà chỉ không đồng
ý phương thức điều hành Giáo Hội của ngài, người đứng
đầu tàu mà tỏ ra không có trách nhiệm với con tàu mình
điều khiển, không có trách nhiệm với những cọng sự
viên của mình.
Thượng Tọa
Thích Giác Ðẳng, trưởng ban tổ chức Ðại Hội Bất Thường
trong bài: “Sự Cần Thiết của Giáo Chỉ số 9”đưa
ra những nhận định:
1.Những
sự thật cần được ý thức rõ rệt, đó là nhà cầm quyền
cọng sản Việt Nam không cho phép một cơ cấu lãnh đạo Phật
Giáo độc lập đứng ngoài Ban Tôn Giáo. Ðiều này theo
Thượng Tọa Giác Ðẳng là điều hiển nhiên, thế mà ngày
nay có những người tuyên bố mạnh mẽ rằng không hề có
pháp nạn.
Sao mọi người
đều mù hết, chỉ có Thượng Tọa là sáng mắt? Những người
mù này là ai? Người nào mạnh mẽ tuyên bố không có pháp
nạn? Lại mập mờ nữa, lại vu vơ nữa! Nêu ra cái giả
tưởng để phê bình và buộc tội giả tưởng!
2. Nhà cầm
quyền có kế hoạch tinh vi để phân hóa, lũng đoạn Phật
Giáo. Thuợng Tọa trích dẫn “Tài Liệu Mật”kế hoạch
khống chế Phật Giáo của công an, rồi đặt câu hỏi: Nói
rằng chính sách đó không hề có hoặc không ảnh hưởng nghiêm
trọng gì đến Phật Giáo trong nước và ngoài nước là điều
ngây thơ đáng tiêc.
Ai nói không
có chính sách ấy? Ai nói chính sách ấy không ảnh hưởng
đến Phật Giáo trong và ngoài nước? Ðặt vấn đề như vậy
có lạc đề không? Có vu vơ không? Thế mà Thượng Tọa lại
lên giọng kẻ cả dạy đời! Vô lẽ người đọc tài liệu
trên trình độ quá thấp kém để không hiểu họ muốn nói
gì, làm gì? Xin Thượng Tọa, đừng quá khinh người như vậy!
Thượng Tọa
là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Truyền Thông có trách nhiệm
phổ biến, quảng bá, tổ chức học tập những tài liệu
mật trên để đề phòng, chống trả. Thượng Tọa không làm,
dành thì giờ đi đó, đi đây, đi họp các tổ chức chính
trị đảng phái. Là một Tổng Vụ Truởng Truyền Thông của
Giáo Hội đấu tranh cho quyền tự do tín ngưỡng, mà không
có một tờ báo, không có chương trình phát thanh, truyền hình.
Thượng Tọa không chu toàn trách nhiệm giờ đây Thượng Tọa
lại vô tình góp tay phân hóa, lũng đoạn Phật Giáo theo kế
hoạch tinh vi của Công An Cọng Sản bằng cách tổ chức Ðại
Hội Bất Thường loại bỏ những người bấy lâu cùng chung
hoạt động, bắt chước cách phát ngôn bừa bãi, bằng vu
khống mạ lỵ. Thượng Tọa có thấy rõ điều này?
3. Một
số không ít các thành viên của Giáo Hội đã chuyển hướng
từ nỗ lực giải trừ pháp nạn sang sự hợp tác với nhà
cầm quyền. Thượng Tọa trích lời của Hòa Thượng Thiện
Hạnh, Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống, trong Bản Phúc Trình
Phật Sự để đi đến kết luận: “Sự ra mặt công
khai hay kín đáo với thế lực đuơng quyền đã làm đau lòng
và hoang mang một số lớn quân chúng tin tưởng vào sự vận
động chính nghĩa của Giáo Hội.”Chúng tôi tưởng
Thượng Tọa đủ sáng suốt để nhận định giá trị của
Bản Phúc Trình, ở đây Thượng Tọa chỉ lặp lại không
khác con vẹt, rồi đi đến kết luận trên. Chúng tôi tưởng
sau vụ án mạ lỵ, vu khống dành cho Hòa Thượng Thích Chánh
Lạc mà Thuợng Tọa, cũng như Hòa Thượng Hộ Giác, Thượng
Tọa Viên Lý cũng phải có phần nào chịu trách nhiệm vì
khi Hòa Thượng Chánh Lạc trong vụ tranh chấp với gia đình
nạn nhân, quí vị lên Denver, thay vì giải quyết vấn đề
lại đổ dầu vào lửa, tán dương công đức Hòa Thượng
Chánh Lạc làm cho nạn nhân cảm thấy bị hàm oan để rồi
phải nhờ tòa án phán xét. Những lời Hòa Thượng Chánh Lạc
vu khống buộc tội gia đình nạn nhân chống đối Hòa Thuợng
là làm theo mệnh lệnh Bắc Bộ Phủ. Tưởng rằng thủ thuật
“cả vú lấp miệng em”sẽ dẹp đi mọi chống đối, đem
lại thắng lợi cho mình. Nhưng luật pháp Hoa Kỳ không thể
chấp nhận được. Giờ đây, Thượng Tọa cũng dẫm lại
vết xe cũ, dựa vào Bản Phúc Trình của Hòa Thượng Thiện
Hạnh và Hòa Thượng Thiện Hạnh ở trong chùa Báo Quốc bị
công an bao vây, dựa vào vài cú điện thoại, vào lời “chê
trách”, vào “lời khuyên”không kiểm chứng, để rồi buộc
tội là làm tay sai cho cọng sản, công khai hay kín đáo hợp
tác với cọng sản. Không biết sự phán xét ấy có công chính,
có đủ sức thuyết phục trước tòa án công lý? Thượng
Tọa chắc cũng biết nền tảng căn bản của dân chủ là
Habeas corpus. Tại sao Thượng Tọa, Giáo Hội không trực tiếp
hỏi các đương sự liên hệ trước khi đưa ra phán quyết?
Không biết
Thượng Tọa có đọc bản “Nhận Ðịnh về Vai Trò
và Bản Phúc Trình của vị Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống
GHPGVNTN “của Nhóm Tăng Ni Hải Ngoại ngày
9- 11- 2007? Tôi xin trích một vài đoạn:
- “Truớc
hết, về quyền hạn của vị Chánh Thư Ký VTT, theo Hiến Chương,
không có trách nhiệm hay bổn phận “đệ trình”Bản Phúc
Trình Phật Sự đến VHÐ mà phải ngược lại. Nếu có đệ
trình Phật sự gì đến VHÐ, Hòa Thượng chỉ có thể đứng
ở cương vị Chánh Ðại Diện GHPVVNTN Thừa Thiên- Huế mà
Hòa Thượng kiêm nhiệm, chứ không phải với tư cách Chánh
Thư Ký VTT- không những vậy lại ghi là “Thay mặt Hộị
Ðồng Lưỡng Viện”để đệ trình VHÐ! Không có điều khoản
nào trong Hiến Chương qui định quyền hạn của vị Chánh
Thư Ký VTT có thể thay mặt Hội Ðồng Lưỡng Viện, cũng
không thể có trường hợp từ VTT lại “đệ trình”Phật
sự với VHÐ. Nguyên tắc hành chánh tối thiểu như vậy mà
Hòa Thượng không quan tâm, vội vàng phổ biến văn kiện đó
để làm trò cười cho thức giả. Thiên hạ sẽ nghĩ rằng
VHÐ kiểm soát toàn quyền và VTT phải tuân lệnh, báo cáo,
đệ trình. Còn nếu là bản góp ý đề nghị thì không thể
gọi là Bản Phúc Trình.
- Vì lý
do gì, hình thức ghi số thứ tự của hai Giáo Chỉ không đồng
nhất? Giáo Chỉ số 2 thì ghi là “số 02/GC/VTT, còn Giáo Chỉ
số 9 thì ghi là “số 09/VTT/GC/TT”nghĩa là sao? Có lý do gì
để thay đổi về hình thức văn kiện này, hay vì hai Giáo
Chỉ này do hai nơi soạn thảo khác nhau, hoặc là vội vàng
quá không đủ thời gian xem Giáo Chỉ số 02 khi soạn thảo
Giáo Chỉ số 09? Hay là Văn Phòng VTT không hề có hồ sơ lưu
gì cả nên cái trước, cái sau bất nhất? Tại sao Giáo Chỉ
số 09 có ghi TT (Tăng Thống) mà Giáo Chỉ số 02 lại không
có? Phải chăng Giáo Chỉ số 02 không do đức Tăng Thống ban
hành? Và tại sao từ Giáo Chỉ số 02 lại nhảy vọt thành
số 09? Vậy Giáo Chỉ số 03, 04, 05, 06, 07, 08 ở đâu mà Phòng
Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, cơ quan phát ngôn chính thức
của GHPGVNTN không thấy đưa ra? Phải chăng những Giáo Chỉ
kia không hề hiện hữu? Nếu đó là Giáo Chỉ ban hành cho
Giáo Hội trong nước không liên quan hải ngoại, nên không
phổ biến, vậy thì Giáo Chỉ số 02 cũng “chấn chỉnh, bổ
sung, kiện toàn nhân sự trong nước, sao lại rầm rộ phổ
biến tại hải ngoại và lưu giữ trong tài liệu của Phòng
Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế? Nếu các Giáo Chỉ 3, 4, 5, 6,
7 và 8 có ban hành mà Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế cũng
như Văn Phòng II cũ (và mới) đều không biết thì sao gọi
là có phối hợp Phật sự trong và ngoài nước? Và VPII VHÐ
làm sao có thể thay mặt VHÐ trong nước để thi hành Phật
sự được? Còn nếu đặt số 09 vì Giáo Chỉ này ban hành
vào tháng 9, thì sao Giáo Chỉ số 02 lại ban hành tháng 11?
Ðây chỉ là những tiểu tiết, nhưng không phải là không
quan trọng, vì qua đó, người ta có thể thấy tính cách bất
nhất, không ngăn nắp, không trật tự của hệ thống hành
chánh Giáo Hội, mà một vị Chánh Thư Ký như Hòa Thượng
không thể không lưu tâm.
- Bản
Phúc Trình Phật Sự của Chánh Thư Ký VTT ký ngày 08- 9- 2007
trùng với Giáo Chỉ số 09/VTT/GC/TT (cũng ký ban hành ngày 08-
9- 2007). Theo Hiến Chương và Nguyên Tắc hành chánh, để có
sự chuẩn y của Viện Tăng Thống qua một Giáo Chỉ về sự
sắp xếp hoặc bầu cử nhân sự của Ban Chỉ Ðạo VHÐ (trong
và ngoài nước) phải có sự đồng thuận của 2/3 thành viên
Hội Ðồng Lưỡng Viện và quyết định từ VHÐ phải đệ
trình VTT thông qua Văn Phòng Viện Tăng Thống. Như vậy, khi
Văn Phòng VTT nhận được Quyết Ðịnh của Viện Hóa Ðạo,
vị Chánh Thư Ký sẽ duyệt qua rồi từ Huế gửi E-mail hay
fax đến tu viện Nguyên Thiều ở Bình Ðịnh, nhờ người
đem trình đức Tăng Thống (nhưng để bảo mật, chắc chắn
phải sai người tín cẩn đích thân mang đi thay vì gửi qua
fax). Ðức Tăng Thống cũng tuổi già sức yếu, phải có người
đọc cho nghe rồi mới quyết định. Ngài là bậc chân tu đạo
hạnh, nhiều kinh nghiệm làm việc hành chánh, cũng như kinh
nghiệm đấu tranh cho Giáo Hội và dân tộc trong nhiều hoàn
cảnh biến động của đất nước, sẽ dành khá nhiều thời
gian để đắn đo, suy nghĩ trước khi chuẩn y cái Quyết Ðịnh
kỳ lạ của VHÐ muốn giải tán toàn bộ những Giáo Hội
tại hải ngoại. Ðiểm qua cách làm việc theo thời gian diễn
tiến tuần tự và đúng theo nguyên tắc hành chánh như vậy,
người ta sẽ thấy rằng, nếu Hòa Thượng Viện Truởng đọc
bản Phúc Trình của VTT mà không cần suy nghĩ gì hết, lập
tức ra quyết định giải tán Giáo Hội các Châu, giải tán
Văn Phòng II VHÐ cũ để thành lập Văn Phòng II mới, rồi
đệ trình đức Tăng Thống chuẩn y, thì ít nhất cũng phải
mất hai tuần lễ để có Giáo Chỉ số 9. Trong trường hợp
thực sự gay go, khẩn cấp, có thể rút ngắn lại thành một
tuần lễ cho tiến trình từ Bản Phúc Trình đến Quyết
Ðịnh, rồi từ Quyết Ðịnh đi đến Giáo Chỉ. Thế mà,
trên thực tế văn bản mà mọi nguờì đều thấy, Bản Phúc
Trình Phật Sự của Chánh Thư Ký VTT và Giáo Chỉ số 9 đã
ký cùng một ngày! Từ đó, suy ra: a/ Quyết Ðịnh giải tán
Giáo Hội các Châu Lục và quốc gia cũng như Văn Phòng II VHÐ
đã có sẵn trước đó, dù có Bản Phúc Trình hay không thì
bên VHÐ cũng đã quyết định rồi. b/ Quyết Ðịnh hay Giáo
Chỉ đều do VHÐ ban hành, không hề đệ trình và xin chuẩn
y Ðức Tăng Thống, nhưng e ngại làm như vậy sẽ sai Hiến
Chương, vì thế sau khi đã lỡ ban hành Giáo Chỉ số 09, biết
có nhiều sơ hở và bị luận tội về sau, ông Võ Văn Ái
đã cố gắng thuyết phục Hòa Thượng viết Bản Thuyết Trình
Phật Sự gọị là có phối hợp giữa hai Viện, sau này chịu
trách nhiệm với lịch sử thì chỉ có Viện Tăng Thống chịu,
còn VHÐ thì vô can, bởi vì từ Bản Phúc Trình cho đến Giáo
Chỉ đều xuất phát từ Viện Tăng Thống. Thông Bạch Hướng
Dẫn Thi Hành Giáo Chỉ sau đó cũng chỉ “thừa hành”và
“khâm tuân”Giáo Chỉ Viện Tăng Thống mà thôi. c/ Nếu có
Quyết Ðịnh của VHÐ đệ trình Ðức Tăng Thống xin chuẩn
y và ban Giáo Chỉ, tất nhiên Quyết Ðịnh đó phải đến
Văn Phòng VTT ít nhất một tuần lễ trước khi đức Tăng
Thống nhận được; mà nếu Quyết Ðịnh của VHÐ có thông
qua VTT thì Hòa Thượng Chánh Thư Ký VTT phải biết, mà n ếu
đã biết thì không lẽ nào lại bỏ thì giờ viết làm gì
cho thừa thãi cái gọi là Bản Phúc Trình Phật Sự! Không
lẽ ra Bản Phúc Trình để tự giết VTT mà bảo vệ VHÐ? d/
Nếu Quyết Ðịnh của VHÐ đi thẳng đến Ðức Tăng Thống
chứ không thông qua Văn Phòng VTT thì chức vụ của vị Chánh
Thư Ký chỉ là bù nhìn (như đã nói ở đầu thư), dù có
viết trăm Bản Phúc Trình cũng không giá trị hay ý nghĩa gì.
e/ Nếu Bản Phúc Trình Phật Sự do vị Chánh Thư Ký thực
sự ký “đệ trình”VHÐ có tác dụng dẫn đến Quyết Ðịnh
của Hòa Thượng Viện Truởng để xin Ðức Tăng Thống chuẩn
y Giáo Chỉ số 09, thì tiến trình giải tán toàn bộ Giáo
Hội các Châu và Văn Phòng II VHÐ cũ (với trên 200 thành viên
chư tôn đức và cư sĩ đã từng phục vụ và yểm trợ Giáo
Hội suốt hơn 15 năm qua) là một tiến trình vội vàng, dễ
dãi, không tình, không lý, diễn ra một cách khinh xuất trong
vòng một cữ trà của ngày 8- 9- 2007. f/ Nếu tất cả những
văn kiện từ Bản Phúc Trình Phật Sự đến Giáo Chỉ số
09 và Thông Bạch Hướng Dẫn Thi Hành Giáo Chỉ đều không
hội ý với Chánh Thư Ký VTT hay đức Tăng Thống, mà do ông
Võ Văn Ái hay ai khác soạn thảo, thì ngay sau khi phát
hiện ra điều ấy, trễ nhất là từ lá thư này, chính Hòa
Thượng Chánh Thư Ký VTT phải tức khắc lên tiếng để bảo
vệ Viện Tăng Thống và nhất là phải bảo vệ Ðức Tăng
Thống. Không làm điều này, Hòa Thượng sẽ là người bị
lịch sử luận tội chứ không ai khác, vì bên phía ông Võ
Văn Ái đã ném đá dấu tay, để VTT gánh chịu trách nhiệm.
- Theo dõi
Bản Phúc Trình của Hòa Thượng, ngay ở phần mở đầu, Ðiều
1, người ta đã thấy rằng Hòa Thượng chỉ ngồi một chỗ
trong liêu phòng, không đi đâu được cả, vì “công an chìm,
nổi một lực lượng hùng hậu, bao vây chặt chẽ các chùa
thuộc GHPGVNTN Thùa Thiên Huế, ở chùa Báo Quốc càng đông
hơn từ đó đến nay . . .”(suốt hơn hai tuần lễ Vu Lan,
từ 26- 8 đến 8- 9- 2007- trích Bản Phúc Trình). Như vậy Bản
Phúc Trình của Chánh Thư Ký VTT chỉ là sản phẩm tưởng
tượng của một người bị bao vây, kiểm soát, không hề
có một cuộc điều tra trực tiếp đối với những sự việc
hay nhân vật nào bên ngoài. Ngồi một chỗ mà “phúc trình
Phật sự”thì liệu có chính xác, đáng tin không?
- Ở Ðiều
2, Hòa Thượng cho biết “Một số Phật Tử ở Úc và Hoa
Kỳ, có gọi điện về thăm và nhân tiện, bày tỏ sự bất
bằng về một số Thượng Tọa, Ðại Ðức và Cư Sĩ tu xuất,
đang là Thành Viên Hôị Ðồng Ðiều Hành GHPGVNTN/HN tại Úc
và Hoa Kỳ, lại đi vận động tách khỏi GHPGVNTN là vì sao?”Vậy
có nghĩa rằng chỉ cần vài người Phật Tử nào đó điện
thoại thăm và bày tỏ quan điểm thì vị Chánh Thư Ký VTT
đã có thể kệt tộị chư tôn đức Tăng Ni đồng môn, đồng
đạo của mình? Bản Phúc Trình dựa vào con số và dự kiện
rất mơ hồ nên khi trình VHÐ, nó lấy sự mơ hồ đến Quyết
Ðịnh của VHÐ, rồi Quyết Ðịnh của VHÐ lại trở ngược
sự mơ hồ về VTT để cho ra Giáo Chỉ số 9. “Một số Phật
Tử”và “một số Thượng Tọa, Ðại Ðức và Cư sĩ tu
xuất” là ai, những ai? Kết án ai thì nói thẳng danh tánh
người đó, sao lại có thể nói vu vơ để gieo hoang mang, nghi
ngờ trong hàng Tăng đoàn và quần chúng, vạ lây hết toàn
thể chư tôn đức Tăng Ni và cư sĩ hải ngoại! Hòa Thượng
có khi nào đặt nghi vấn rằng: làm sao “một số Phật tử”
(dù là thân tín của Hòa Thượng) ở Úc và Hoa Kỳ lại biết
được “một số Thượng Tọa, Ðại Ðức... đi vận động
tách rời khỏi GHPGVNTN? Một cuộc vận động như vậy có
chính đáng không? Nếu không chính đáng thì không thể nào
công khai mà không công khai thì làm sao Phật Tử lại biết
được? Hòa Thượng có biết rõ ai là người đi vận động,
và vận động những ai, thầy nào, sư cô nào, vào ngày tháng
nào, ở địa điểm nào, nội dung cuộc vận động như thế
nào mà gọi là “tách khỏi GHPGVNTN không? Nếu hoàn toàn không
biết rõ thì sao lại “phúc trình”. . .
Ba trường
hợp, 9 điểm phân tich được nêu ra trong Bản Nhận Ðịnh
về Vai Trò và Bản Phúc Trình của vị Chánh Thư Ký Viện
Tăng Thống gửi cho Hòa Thượng Thiện Hạnh và được
đưa lên mạn không biết Thượng Tọa có đọc không?
Thượng Tọa
là Thành viên của GHPGVNTN Hải Ngoại tại Hoa Kỳ, có bao giờ
Thượng Tọa thấy các thành viên khác có dấu hiệu “chuyển
hướng”, dấu hiệu “hợp tác với nhà cầm quyền”của
họ? Nếu có dấu hiệu, Thượng Tọa có bao giờ đưa ra thảo
luận? Nếu không thấy có dấu hiệu làm sao Thương Tọa dám
kết luận? Nếu thấy có dấu hiệu mà không đưa ra thảo
luận, Thượng Tọa có thấy mình thiếu trách nhiệm? Nếu
không đem ra thảo luận để tìm hiểu vấn đề mà kết luận
với những người đồng viện, hành xử như vậy có “đẹp”không?
có xứng đáng là người đồng viện, đồng thuyền? Hay Thượng
Tọa bấy lâu xem mình không cùng thuyền mà chỉ gá vào thôi?
Không tìm
hiểu, không luận bàn, rồi với giọng mỉa mai nói trong đề
tài thuyết trình trước Ðại Hội “Sự ra mặt công khai
hay kín đáo hợp tác với thế lực đương quyền đã làm
đau lòng và hoang mang một số lớn quần chúng tin tưởng vào
sự vận động chính nghĩa của Giáo Hội.”Lời buộc
tội vu vơ này nếu đem ra trong kỳ Yết Ma của Ðại
Tăng có phạm tội Ba La Di hay không? Nếu đưa ra trước tòa
án, có phạm tội vu khống, mạ lỵ không?
Thượng Tọa
Giác Ðẳng nói trong nỗ lực giải trừ quốc nạn và pháp
nạn, Giáo Hội PGVNTN cần minh định lý tưởng cao cả và
tinh thần nhất quán trong hành động. “Những chủ trương
lập lững, thiếu phân minh vốn không phải là phương châm
hành động của người Phật Tử”.Những chủ trương
gì là chủ trương lập lững, thiếu phân minh? Là Tổng
Vụ Truởng Tổng Vụ Truyền Thông bao nhiêu năm không thấy
Thượng Tọa cho biết bằng bài giảng, bài nói chuyên, bài
thuyết trình, bằng tư liệu gì nói rõ điều này, giờ đây
lại lên mặt nói một cách vu vơ không khác gì Hòa Thượng
Thích Chánh Lạc để chứng tỏ mình là người chống cọng
số một từng lên tiếng nguyền rủa thiên hạ mà không đưa
ra một thí dụ, một hướng dẫn nào. Dầu sao Hòa Thượng
Thích Chánh Lạc cũng đã quảng bá quan điểm của mình. Hòa
Thượng đã đánh phèn la hô to trong lời giới thiệu tài liệu
Âm Mưu Tiêu Diệt Phật Giáo của Cọng Sản Việt Nam ,
một tài liệu rất có giá trị của Quán Như năm 1996 với
lời lẽ:
Vì muốn
cho những kẻ:
- Diện
thị bối phi
- Lòng
lang dạ thú,
- Phản
bội, vong ân,
- Cõng
rắn cắn gà nhà
- Rước
voi về giày mả Tổ
- Ðâm
bị thóc, thọc bị gạo
- Ăm cơm
quốc gia, thờ ma Cọng sản
- Ði chân
chữ bát, về hùa với ma . . .
- Nhận
giặc làm Cha
- Ăn cháo
đá bát
- Ruột
bỏ ra, da ném vào,
- Có mắt
không ngươi
- Vàng
thau lẫn lộn . . .
Lời lẽ
chửi đổng bất hủ của một vị Hòa Thượng, Phó Chủ Tịch
Nội Vụ, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp của Giáo
Hội PGVNTNHN tại Hoa Kỳ. Thượng Tọa muốn mọi người cũng
phải chửi đổng như vậy mới không lập lững, không thiếu
phân minh?
Trong Luận
Ngữ tập XX, Chương II, Ðoạn 3, Khổng Tử nêu ra bốn dự
kiện tai hại của một chính quyền tàn bạo cần phải tránh:
“Hành xử tội phạm một cách bất công vì phán đoán
sai lầm, thiếu kiến thức cần thiết, đó là tàn ác. Bắt
buộc dân chúng thi hành hay không được thi hành công việc
mà không nói rõ lý do, đó là áp bức. Luật lệ khi thì bắt
phải tuân, khi thì phải bỏ theo cảm tính của nhà cầm quyền,
đó là gây tai họa. Cư xử với người dưới một cách bỏn
xẻn, bần tiện không đúng phong cách của người quân tử,
đó là hèn hạ. Chính quyền nào phạm một trong bốn điều
này đều gọi là chính phủ chuyên chế, thiếu đức hạnh,
hiền lương”. Thượng Tọa nắm quyền Tổng Vụ Truyền
Thông có phạm một trong bốn dự kiện trên?
Luận Ngữ
tập II, Chương III ghi: “Tử viết: Ðạo chi dĩ chính, tề
chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sĩ. Ðạo chi dĩ đức, tề chi
dĩ lễ, hử sỉ thả cách”(Khổng Tử nói: Dùng luật
pháp để dắt dẫn dân, dùng hình phạt để duy trì trật
tự, dân có thể tránh được tội nhưng kém phần tự trọng.
Dùng đức để lãnh đạo dân, dùng lễ để duy trì trật
tự, dân bồi bổ đức tính tự trọng (biết hổ thẹn khi
làm quấy), làm tròn nhiệm vụ (công dân).
Trong kinh
điển Phật Giáo, như Thượng Tọa biết, cũng có đề cập
đến phương châm xử thế dành cho nhà cầm quyền và dân
chúng, đồng thồi cũng nói đến những hệ thống chính trị
tại Ấn Ðộ thời Phật còn tại thế, trong đó Ngài tán
thán mô thức chính quyền dân chủ. Trong Manu Necti hay Luật
Manu của Ấn Ðộ Giáo thờì bấy giờ cũng có đưa ra những
qui luật để hướng dẫn vua tôi, thần dân trong nhiệm vụ
của mình. Những qui luật này không những bàn về quyền hạn
của nhà cầm quyền mà còn bổn phận của họ đối vớí
dân chúng và bổn phận của dân chúng đối với nhà cầm
quyền.
Quan điểm
của Ấn Ðộ Giáo về chính quyền dựa vào thuyết Matsya Nyaya,
có thể dịch nôm na la Luật Rừng, khôn sống bống chết,
mạnh được yếu thua. Các nhà hiền triết Ấn Giáo hỏi:
Tại sao cần có chính quyền? Tại sao có người cai trị, kẻ
bị trị? Tại sao cần có luật pháp? Tại sao phải tôn trọng
luật pháp và nếu không tôn trọng phải bị trừng phạt như
thế nào. Các nhà hiền triết Ấn Giáo trả lời dựa vào
định luật thiên nhiên, luật Matsya Nyaya, điều luật trong
đó cá nhỏ làm mồì cho cá lớn. Chính quyền, nhà cầm quyền
và luật pháp là cần thiết để ngăn ngừa luật thiên nhiên,
luật rừng, không cho hành hoạt trong xã hội loài người.
Loại bỏ chính quyền, loại bỏ nhà cầm quyền, loại bỏ
luật pháp thì xã hội con người sẽ hỗn loạn trong đó mạnh
được yếu thua, lớn hiếp bé. Theo Manu Samhita nếu không có
luật pháp thì kẻ mạnh sẽ nuốt kẻ yếu giống như cá lớn
nuốt cá bé. Theo Mahabharata, nếu không có nhà cầm quyền đưa
ra biện pháp trừng trị, thì kẻ mạnh sẽ hiệp kẻ yếu
như cá lớn hiếp cá nhỏ. . . Như vậy ta thấy thuyết chính
quyền của Ấn Giáo dựa vào quan điểm “Nhân si sơ tánh
bản ác”, cần có chính quyền, nhà cầm quyền, luật pháp
ngăn ngừa.
Quân vương
Ấn Ðộ vì vậy cần thực thi Caturopàya hay Tứ Pháp trong
việc trị nước, an dân, đó là: Sama (Hòa bình), Dàna (Từ
thiện), Danda (Hình phạt) và Bheda (Chia để trị). Quan niệm
trị quốc an dân của Phật hoàn toàn khác hẳn quan điểm
Ấn Giáo. Ngài cũng nhận thấy con người phải tranh đấu
để sống còn, nhưng không quan niệm bản tính của con người
là ác và con người có thể đạt được an lạc, hạnh phúc
qua việc hợp tác với những người khác, đôi khi hy sinh tính
mạng của mình cho sự an lành của đồng loại qua hợp tác,
cưu mang. Theo Phật, pháp luật do cấp cai trị từ trên ban
xuống không cần thiết lắm trong việc kiểm soát hành động
con người, trong việc mang lại an lành, hạnh phúc cho quần
chúng mà là kỷ luật tự giác và đạo lý tương duyên. Luật
rừng, định luật mạnh được yếu thua, không phải
là một định luật phổ quát ngay trong loài cầm thú. Quan
điểm này được Phật chỉ dạy trong nhiều chuyện Tiền
Thân (Jakata).
Trong chuyện
Ummadayanti của Jatakamala, Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo, khi
quốc vương một nước công bằng, nhân ái thì quần thần
cũng nhân ái, công bằng. Khi quần thần công bằng, nhân ái
thì quan quyền cũng nhân ái, công bằng. Khi quan quyền nhân
ái, công bằng thì các viên chức công quyền cũng công bằng,
nhân ái. Khi các viên chức công quyền công bằng nhân ái,
thì dân chúng trở nên nhân ái, công bằng.”
Những
lời trình bày trên không phải chống đối Thượng Tọa Giác
Ðẳng, nhưng không đồng ý những nhận định lệch lạc,
những lời buộc tội vô căn cứ, những lời lẽ có vẻ dạy
đời của Thượng Tọa, đồng thời nhận thấy Thượng Tọa
đã không chu toàn trách nhiệm của mình, trách nhiệm của
một Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Truyền Thông và xử sự không
mấy đẹp với những người đồng viện đã cùng nhau sinh
hoạt trong bao nhiêu năm.
Cư sĩ Võ
Văn Ái trong bài Giáo Chỉ số 9, từ hợp pháp đến khế
cơ nói “người ta sợ Giáo Chỉ số 9, người ta sợ
Thông Bạch Hướng Dẫn Thi Hành Giáo Chỉ, vì hai văn kiện
này là cẩm nang cưu sống GHPGVNTN.”Thật là một nhận
định chủ quan và lạc đề. Người ta cho Giáo Chỉ là bất
hợp hiến, bất hợp pháp chứ không phải sợ và người ta
cho Giáo Chỉ này làm biến sắc, triệt tiêu tổ chức GHPGVNTN
chứ không phải cứu sống GHPGVNTN. Bất hợp hiến vì Hiến
Chương không thấy chỗ nào đề cập đến quyền giải tán
các tổ chức Giáo Hội không do mình sáng lập. Bất hợp pháp
vì Giáo Hộị không có quyền giải tán các Giáo Hội Hải
Ngoại được thành lập theo Qui Chế và luật pháp của từng
quốc gia. Bất hợp pháp vì không tuân theo thủ tục được
ghi trong Qui Chế. Bất hợp pháp vì không tham khảo với Giáo
Hội liên hệ. Giáo Chỉ làm biến sắc Giáo Hội vì không
tôn trọng quyền dân lập của các tổ chức Giáo Hội Hải
Ngoại, vì làm mất tôn chỉ “thống nhất”của Giáo Hội
được ghi trong Hiến Chương.
Ông Ái nói:
người ta tìm cách bôi nhọ và vu khống Giáo Chỉ và Thông
Bạch . Bức thư của Hòa Thượng Thích Thắng Hoan gửi Hòa
Thượng Tăng Thống và Hòa Thượng Viện Trưởng thỉnh thị
tôn ý của hai Ðại Lão Hòa Thượng, những nhận định khác
về Giáo Chỉ và Thông Bạch lại gọi là bôi nhọ và vu khống?
Ðặt vấn đề hợp hiến, hợp pháp của Giáo Chỉ, Thông
Bạch mà gọi là bôi nhọ, vu khống? Ông Ái tiếp tục lời
lẽ buộc tội và mạ ly: “những người viết bài bôi nhọ
và vu khống Giáo Chỉ và Thông Bạch kia luôn luôn chứng minh
rằng họ là “người”của GHPGVNTN, họ là “người chống
độc tài Cọng sản”. . . “không phải vậy đâu. Có kẻ
nào muốn đi đêm, muốn thỏa hợp với chế độ độc tài
Cọng sản mà công khai chuyện đó giữa một cọng đồng tị
nạn cọng sản đâu? Cho nên chống chế kia chỉ cốt giữ
vững nồi gạo của họ mà thôi.”
Kể cũng
lạ, mới ngày nào đó những người này đã cùng Hòa Thượng
Hộ Giác, Thượng Tọa Giác Ðẳng, ông Võ Văn Ái ngồi
chung bàn ăn uống, chuyện trò, bàn bạc Phật sự, thì
ngày sau, không có dấu hiệu nào đặc biệt, những người
này bị tấn công nặng nề như kẻ thù truyền kiếp, với
lời lẽ không phát xuất từ đại bi tâm, đại trí, đại
hùng một tí nào. Họ bấy lâu nằm trong Giáo Hội, nhưng theo
ông Ái, họ không có quyền nói vậy, họ có lập trường
quốc gia, dân tộc cũng không có quyền nói. Chỉ có ông Ái,
phát ngôn viên của Viện Hóa Ðạo mới có quyền hay sao? Và
nếu họ nói như vậy vì họ sợ mất nồi gạo của họ.
Họ phải che dấu việc đi đêm với cọng sản để làm ăn,
để thùng phước sương không rỗng? Tại sao ông Ái có thể
hạ thấp mình nói những lời như vậy?
Ðây là lời
buộc tội năng nề của vị phát ngôn viên Viện Hóa Ðạo.
Ðể chứng
minh Giáo Chỉ số 9 đi đúng Hiến Chương, không vi phạm pháp
lý, ông Võ Văn Ái hỏi quí Ðại Biểu tham dự Ðại Hội
Bất Thường:
1. Giáo Hội
PGVNTN có phải là Giáo Hội lịch sử và dân lập không? Ðại
Hội đồng thanh đáp lớn: Có!
2. Giáo Hội
PGVNTN có là Giáo Hội hợp pháp và hợp hiến không? Ðại
biểu trả lời lớn: Có
Ông Ái nói
vì “quí Ðại Biểu trả lời Có một cách đoán quyết. Vậy
tôi tuyên bố Giáo Chỉ số 9 .. . là hợp pháp và hơp Hiến
Chương.
Thật là
lối lý luận kỳ quặc. Vấn đề được đặt ra là Giáo
Chỉ số 9 nhằm giải tán các Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
tại các Châu Lục là vượt ngoài quyền hạn của Giáo Hội
và không có ghi trong Hiến Chương, chứ ai có nói Giáo Hội
không phải dân lập, không phải lịch sử. Ai có đặt vấn
đề Giáo Hội PGVNTN là bất hợp pháp, bất hợp Hiến vì
ai theo dõi sinh hoạt của Giáo Hội đều biết Giáo Hội PGVNTN
được 11 tập đoàn- 5 tập đoàn Cư Sĩ, 6 tập đoàn Tăng
Già - cùng nhau đứng ra thành lập vào tháng Giêng năm 1964.
Ðặt vấn đề như vậy để khi Ðại Biểu trả lời khẳng
định, thì quan tòa Võ Văn Ái tuyên bốGiáo Chỉ số 9 hợp
pháp, hợp Hiến (vì Giáo Hội được thành lập hợp hiến,
hợp pháp!)
Cũng cách
lý luận ấy, ông Võ Văn Ái nói có tờ báo viết Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã chính thức tan vỡ, để
đặt câu hỏi: GHPGVNTN “tan vỡ”hồi nào? Chính thức giải
tán các cơ chế địa phương ở hải ngoại hồi nào, ở đâu?
Giáo Chỉ số 9 có nói như thế không?
Không biết
tờ báo ấy của ai, tên gì, người viết là ai. Nhưng ở đây
ông Ái muốn ám chỉ cho đó là tờ báo (vô danh) của những
kẻ chống đối việc làm của Giáo Hội và những bài viết
(vô danh) chống đối Giáo Chỉ số 9. Phát ngôn viên Viện
Hóa Ðạo sao có thể ăn nói hàm hồ, vu vơ như vậy?
Giáo Chỉ
không ra lệnh giải tán các Giáo Hội hải ngoại, chỉ Thông
Bạch Hướng Dẫn ra lệnh mà thôi. Tuy nhiên ở Nhận Ðịnh
thứ 6 trong Giáo Chỉ viết: “Một số phần tử cơ hội
trong cọng đồng Phật Giáo hải ngoại tiếp tay (với Cọng
sản?) gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương,
đường hướng sinh hoạt của Giáo Hội PGVNTN Hải ngoại,
âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo Hội trên địa bàn quốc
tế.”Giáo Chỉ ban hành ngày 8 - 9- 2007 dựa vào đâu mà
có nhận định trên? Dựa vào Bản Phúc Trình Phật Sự của
vị Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống viết tại Huế ngày 8- 9-
2007? Bản Phúc Trình Phật Sự dựa vào đâu để phúc trình?
Vào những cú điện thoại của Phật tử quen biết gọi từ
Úc Châu, Hoa Kỳ. Chỉ có vậy, không điều tra, không kiểm
chứng, rồi Viện Truởng Viện Hóa Ðạo dựa vào đó ra lệnh
giải tán các Giáo Hội PGVNTN tai Hoa Kỳ và các Châu Lục mà
Viện Truởng không có quyền.
Ông Võ Văn
Ái khẳng định nhận định thứ 6 là một thực tại. Ông
Ái nói: “Chỉ những ai trong cuộc, có tham dự các Ðại
Hội Thường Niên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ suốt ba năm qua mới chân nhận
sự thật phũ phàng ấy. Các biên bản những Ðại Hội Thường
Niên còn lưu trữ tại Văn Phòng Giáo Hội làm bằng cho thực
tại nguy hiểm này. Ðặc biệt người ngoài Giáo Hội cũng
có thể kiểm chứng nhận định thứ 6 ấy qua các bài viết
đánh phá, mạ lỵ, vu khống trắng trợn trên hai Trang Nhà
Giao Ðiểm, Ðông Dương Thời Báo, qua các bài viét thường
kỳ trên báo An Ninh Thế Giới, Công An Nhân Dân, Nhân Dân,
Quân Ðội NHân Dân v.v. . . hoặc thông qua Nhóm Phật Giáo Vì
Dân Tộc (Xô Viết), nhóm Tăng Ni Hải Ngoại v.v. . . hý lộng
trên Internet.”
Theo chúng
tôi biết những kỳ Ðại Hội Thường Niên trong 3 năm qua
ngoài việc đặt vấn đề những tin tức sai sự thật đã
chuyển đạt về Giáo Hội trong nước còn phần nhiều là
những vấn đề nội bộ, chẳng hạn như chuyện rắc rối
tại Giáo Hội Phật Giáo Utah, Oregon mà Phật tử tại các
địa phương ấy nhiều lần gửi thư yêu cầu Giáo Hội giải
quyết, không những không giải quyết mà cũng không phúc đáp
thư từ kêu oan.
Còn những
bài viết trên Trang Nhà Giao Ðiểm v.v. . . đâu có liên quan
gì đến một số thành viên khác trong các Hội Ðồng Giáo
Hội PGVNTN tại Hoa Kỳ hay các Châu Lục mà thanh lọc, khai
trừ? Hành động thanh lọc, khai trừ mà không chứng minh tội
trạng, không đưa nghi phạm ra trước một cơ quan có thẩm
quyền , không cho nghi phạm có quyền biện hộ có phải là
hành động đúng giới luật Phật, đúng nguyên tắc dân chủ?
Chúng tôi
sưu tầm được một số tài liệu của các phiên họp của
Giáo Hội PGVNTNHN tại Hoa Kỳ, xin đưa ra để xem ai làm việc
gì, ai nói điều gì mà ông Ái cho là gây phân hóa.
Trong cuộc
họp đầu tiên nhiệm kỳ IV, ngày 25 tháng 11, 2004 tại chùa
Diệu Pháp: Triển khai và thực hiện Thông Bạch số 6, số
7 của Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo. Triển khai và thực hiện
Ðề Án Phật Sự được Ðại Hội Khóang Ðại III thông qua.
Thông Bạch
số 6, số 7 Hòa Thượng Viện Trưởng tán thán thành quả
của Ðại Hội Khoáng Ðại III cho rằng Ðại Hội đạt được
thành quả viên mãn chưa từng có từ 12 năm qua ở hải ngoại,
đề cập đến việc lập quĩ đặc biệt cho việc vận động
tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền và tổ chức kỷ niêm
30 năm vận động cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ.
Có vài người
trong phiên họp này cho rằng lời lẽ tán thán Ðại Hội của
Hòa Thượng Viện Trưởng hơi quá đáng, không phản ảnh trung
thực không khí Ðại Hội. Làm gì có chuyện thành công
viên mãn chưa từng có từ 12 năm qua ở hải ngoại.
Hòa Thượng chỉ dựa vào báo cáo mà không kiểm chứng để
tán thán như vậy không có lợi cho uy tín của Hòa Thượng.
Có người cảm thấy hơi ngạc nhiên tại sao thành lập quĩ
đặc biệt cho việc vận động dân chủ nhân quyền mà không
cho những dự án Phật sự khác cũng rất quan trọng. Tại
sao chỉ kỷ niệm ba mươi năm vận động tự do tôn giáo,
dân chủ, nhân quyền mà không phải là ba mươi năm vận động
giải trừ pháp nạn, nó phù hợp với một tổ chức tôn giáo
hơn? Nếu những ý kiến này mà cho là chê trách Hòa Thượng
Viện Trưởng thì thật quá đáng mà còn quá đáng hơn nữa
là cho chúng gây phân hóa, tạo ly gián.
Một dự
kiện khác được đưa ra mà không được thảo luận cặn
kẽ là việc cụ Lê Hữu Dãn gửi tài liệu cho biết Hòa Thượng
Thích Chánh Lạc đóng góp $500 cho việc phát hành tập Sự
Thật mà cụ trả lại với lời lẽ: “Hệ quả của việc
làm chính đáng: Ðánh “Ác Tỳ Kheo”được chính đương
sự hối lộ 500mk, 1/10 ấn phí của EOT- 05! A Di Ðà Phật”.Ðồng
thời cụ gừi bản sao bức thư của một thầy viết cho cụ,
mà tôi chỉ xin trích một đoạn ngắn: “Gửi bác Lê Hữu
Dãn: Chúng tôi có đọc qua tài liệu bác gửi cho Hòa Thượng
bản tự tại địa phương về vụ Thầy Chánh Lạc. Chúng
tôi cũng trông mong Giáo Hội giải quyết vụ bê bối này,
nhưng Giáo Hội đều bị thầy Chánh Lạc đổ tội cho Ban
Trị Sự chùa Như Lai, còn riêng ông ta là vô tội. Trong một
phòng thầy nghỉ trên lầu 3, chùa Diệu Pháp, ông ta nói: Giáo
Hội làm gì được tôi. Thầy nào cũng có vợ con đùm đề,
nhất là thầy Hộ Giác. Tôi dám thách thầy ấy làm. Tôi có
bằng chứng. Mẹ thằng nào dám kết tội tôi . . .”
Bức thư
ký tên: Một ông Tăng.
Lẽ dĩ nhiên
Giáo Hội không thể căn cứ vào một bức thư nặc danh để
định giá trị những lời buộc tội. Nhưng chuyện ở Denver
là chuyện đã kéo dài mà Giáo Hội vẫn cố tình làm lơ thì
không thể hiểu được.
Cũng vậy,
một ngôi chùa của Giáo Hội, chùa Phổ Quang tại Utah, nhiều
lần gửi thư nhờ Giáo Hội can thiệp, nhưng Giáo Hội cũng
không làm tròn trách nhiệm. Chúng tôi xin trích một đoạn
trong Văn Thư số 04- 114/ HÐQT/BTS đề ngày 4- 9- 2004 do toàn
ban Trị Sự gồm 13 người từ Chủ Tịch, Phó Chủ Tịch,
Thư Ký, Thủ Quĩ đến Ủy Viên Giáo Dục với đề tài: Nhận
Ðịnh về những sai lầm của Hòa Thượng Thích Chánh Lạc
trong vai trò lãnh đạo tinh thần chùa Phổ Quang và đối với
Phật Giáo Việt Nam”, với lời kết: “. . . cái mã áo của
Hòa Thượng đã mang nhiều khổ đau cho chúng sanh và tổn thương
cho nền Phật Giáo Việt Nam”.
Trong một
phiên họp của Hội Ðồng Ðiều Hành, Giáo Hội thỉnh cử
đạo hữu Trần Quang Thuận lên nghiên cứu giải quyết vấn
đề, nhưng rồi Giáo Hội không thực hiện, không cung cấp
sự vụ lệnh cho ÐH Thuận! Nếu có ý kiến thì lại nói là
gây phân hóa, tạo chia rẽ?
Cũng vậy,
một đơn vị của Giáo Hội, chùa Phật Quang tại Oregon, nhiều
lần viêt văn thư nhờ Giáo Hội giúp giải quyết vấn đề
do Hòa Thượng Thích Chánh Lạc gây nên, Giáo Hội không phúc
đáp thư yêu cầu của đơn vị! Nếu có ý kiến thì nói là
gây phân hóa, tạo chia rẽ?
Trên đây
chỉ là vài thí dụ điển hình.
Chúng tôi
hy vọng Thượng Tọa Tổng Thư Ký cho công khai hóa biên bản
của các Ðại Hội Thường Niên để làm sáng tỏ vấn đề
xem có ai làm điều gì, nói điều gì gây phân hóa, tạo ly
gián, biến tướng chủ trương (ngoài chủ trương bưng bít
sự thật, chủ trương bênh vực những hành động sai quấy
của một số thành viên tại các Giáo Hội địa phương),
âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo Hội trên địa bàn quốc
tế?
Theo Ông Ái,
Phát Ngôn Viên Viện Hóa Ðạo, thuyết trình viên đề tài
“Giáo Chỉ số 9, từ Hơp Pháp đến Khế Cơ”thì
Thông Bạch Hướng Dân Thi Hành Giáo Chỉ của Hòa Thượng
Viện Truởng Viện Hóa Ðạo không có nói giải tán các Giáo
Hội PGVNTN tại Hải Ngoại mà chỉ vì “họ vo tròn bóp méo”.
Chúng ta đọc
lại Thông Bạch Hướng Dẫn Thi Hành Giáo Chỉ số 9 của Ðức
Tăng Thống do Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo ấn ký tại Thanh
Minh Thiền Viện ngày 25 tháng 9, 2007, gồm 12 Ðiều, trong đó
Ðiều 3 viết “Giải tán các Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thốing Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ và GHPGVNTN-HN tại
các Châu được hình thành theo Quyết Ðịnh số 27- VPLV/ VHÐ
do Quyền Viện Tưởnưởng Viện Hóa Ðạo ban hành ngày 10-
12- 1992. Quyết Ðịnh này đã hủy bỏ và thay thế bằng Giáo
Chỉ số 09/VTT/GC/TT của Ðức Ðệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền
Quang ban hành ngày 8- 9- 2007. Theo ông Ái giải tán ở đây
không có nghĩa là dẹp bỏ, đình chỉ, giải thể mà là chỉnh
đốn nhân sự. Có ai nói giải tán là giải thể, là đình
chỉ. Giải tán Quốc Hội đâu có nghĩa là giải thể Quốc
Hội, đình chỉ Quốc Hội?
Ông Ái giải
thích Ðiều 5 trong Giáo Chỉ viết: “Văn Phòng II Viện
Hóa Ðạo và các thành viên dược thỉnh cử hoạt động vô
thời hạn”. Vô thời hạn đây không có nghĩa là vĩnh
viễn, thế mà “bọn họ”đọc
mà không hiểu cứ chống đối, vu khống. Vô thời hạn có
nghĩa là giới hạn trong thời gian có Pháp nạn.
Có ai nói
vô thời hạn là vĩnh viễn đâu? Có cái gì vĩnh viễn trên
thế gian này. Tổng Thống Pakistan nếu vì tình trạng khẩn
trương có thể bãi bỏ bầu cử Quốc Hội vô thời hạn,
lẽ dĩ nhiên là không phải vĩnh viễn mà chỉ vô thời hạn,
có nghĩa là giới hạn trong thời gian quốc gia trong tình trạng
giới nghiêm. Làm sao vĩnh viễn được thế mà “bọn họ”đọc
không hiểu gì hết. Giờ đây thì dù Tăng Ni, Cư Sĩ không
ở “phe ta”đều là bọn họ, ngôn từ của thuyết trình
viên của Giáo Hội PGVNTN tại Hoa Kỳ, phát ngôn viên Viện
Hóa Ðạo!
Với Khổng
Tử, xã hội nhiễu loạn thời Xuân Thu Chiến Quốc là kết
quả của hệ thống Chính trị thiếu đạo đức. Ngài nói:
“Khi trật tự ngự trị thiên hạ, lễ nhạc và những
cuộc hành quân đều do vua ra lệnh. Khi trật tự không còn
trong thiên hạ, lễ nhạc và những cuộc hành quân do vương
hầu ra lệnh. Khi lễ nhạc và những cuộc hành quân do vương
hầu ra lệnh, quyền hạn của họ sẽ mất đi trong mười
thế hệ Nếu do quan đại thần, quyền hạn sẽ mất đi trong
năm thế hệ. Nếu chính quyền nằm trong tay tiểu thần, quyền
hạn sẽ mất trong ba thế hệ. Khi trật tự ngự trị khắp
thiên hạ, chính quyền không nằm trong tay đại thần. Khi trật
tự an ninh ngự trị trên lãnh thổ quốc gia, dân chúng không
dị nghị, đồn đãi, phê phán”.
Khi A Xà Thế
chuẩn bị tấn công một quốc gia có nền dân chủ khá vững
mạnh, quốc độ của dân Vajjians. Phật dạy: “Này A Nan,
ngươi có biết dân Vajjians thường xuyên hội họp?”A Nan
trả lời:”Bạch đức Thế Tôn, Con có nghe như vậy.”Phật
dạy: “Này A Nan, khi nào người dân Vajjians còn hội họp
trong hòa thuận, giải tán trong hòa thuận, thi hành công việc
trong hòa thuận; khi nào họ không đưa ra những biện pháp
nhất thời hay biện pháp làm lủng đoạn trật tự có sẵn;
khi họ tuân thủ qui luật, khi họ tôn kính, quí trọng các
bậc trưởng thượng, lắng nghe những lời khuyên nhủ ; khi
họ không hiếp đáp phụ nữ; khi họ tôn thờ nơi tôn
nghiêm; khi họ săn sóc cúng dường các bậc hiền thánh, thì
người dân Vajjians mãi mãi được sống đời sống an bình,
thịnh vượng.”
Những
lời trình bày trên không phải chống đối cư sĩ Võ Văn Ái,
nhưng không đồng ý cách giải thích và đặc biệt không đồng
ý ngôn từ đối với người đồng đạo của một vị
mang danh phát ngôn viên Viện Hóa Ðạo
Tổng Thống
Pakistan Pervez Musharraf vì tình hình an ninh quốc gia mà ban hành
lệnh khẩn trương vì tình hình an ninh Pakistan không mấy tốt
đẹp, nhiều vụ ném bom tự sát, nhiều hoạt động gây rối
khủng bố của tổ chức Hồi Giáo cực đoan- nhưng nguyên
nhân chính là ông chánh an tối cao pháp viện và hội đồng
tối cao pháp viện không chấp nhận ông thắng cử Tổng Thống
vì khi ông ra tranh cử mà không từ chức Tổng Tư Lệnh quân
đội- dân chúng Pakiatan cũng như phản ứng thế giới không
mấy thuận lợi vì lệnh khẩn trương đi ngược truyền thống
và qui tắc dân chủ. Tổng Thống đã bãi bỏ lệnh khẩn trương
sau vài tháng ban hành.
Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam thống nhất chỉ vì lời khuyên của ông
Thứ trưởng Bộ An Ninh, lời khuyên của một cư sĩ (nếu
có) thì cho là Phật Giáo bị trên đe dưới búa, đứng trước
vực thẳm tồn vong, để ban Hành Giáo Chỉ, ban hành Thông
Bạch Hướng Dẫn, giải tán các tổ chức Phật Giáo mà mình
không có thẩm quyền.
Bà Benazir
Bhutto, cựu Thủ Tướng Pakistan, lãnh đạo Ðảng Nhân Dân
Pakistan, được dân chúng Pakiatan ngưỡng mộ vừa bị ám sát.
Trong bản di chúc, bà chỉ định người con trai 19 tuổi, hiện
đang là sinh viên ngành sử học tại trường Ðại Học Oxford,
tên là Bilawal Bhutto Zardart, thay thế bà làm Chủ Tịch
Ðảng Nhân Dân Pakistan, chỉ định chồng bà là Aisf All Zardan,
người trước đây mang tiếng dính dáng tiền bạc khi bà Bhutto
làm Thủ Tướng, là Ðồng Chủ Tịch Ðảng và là Phụ Chánh
cho người con trai cho đến khi trưởng thành. Mặc dầu bà
Bhutto là một nhà chính trị chủ trương dân chủ được dân
chúng Pakistan ngưỡng mộ, nhưng bản di chúc trên thực không
dân chủ một tí nào.
Viện Trưởng
Viện Hóa Ðạo là một vị lãnh đạo Phật Giáo vận động
dân chủ nổi tiếng, nhưng việc chỉ định (gọi là thỉnh
tuyển) một số Tăng Ni Cư Sĩ lãnh đạo các Giáo Hội hải
ngoại, thì thật không dân chủ tí nào.
Trong dịp
lễ Khánh Thành chùa Tây Lai tại California, cũng l