Hướng đi
của
CỘNG ĐỒNG
PHẬT GIÁO
VIỆT NAM
TẠI HOA KỲ
Bài thuyết
trình của HT Thích Tín Nghĩa trong Đại Hội Bất Thường
GHPGVNTNHN-HK,
ngày
12 - 01 – 08 tại Chùa Bảo Quang, Santa Ana, California
______________________________________________________________________
Trung Đạo
trân trọng gởi đến bạn đọc bài tham luận HƯỚNG ĐI CỦA
CỘNG ĐỒNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI HOA KỲ đã được Hòa
thượng Thích Tín Nghĩa, nguyên Tổng vụ trưởng tổng vụ
Cư Sĩ GHPGVNTN/HK trình bày trong Đại Hội Bất Thường GHPGVNTNHNHK,
ngày 12 tháng 01 năm 2008 tại Chùa Bảo Quang thành phố Santa
Ana, California, Hoa Kỳ do Hòa Thượng Chánh thư ký Hội Đồng
Giáo Phẩm GHPGVNTNHN/Hoa-Kỳ, Thích Thắng Hoan triệu tâp.
Nam Mô Bổn
Sư Thích Ca Mưu Ni Phật
Kính bạch
chư tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni,
Kính thưa
quý đạo hữu,

Ý niệm đầu
tiên khi muốn tìm hay muốn xác định Hướng Đi luôn luôn
là câu hỏi: Hướng Nào? Câu hỏi này xuất phát từ nhiều
lý do: Hoặc một cách chung chung, trời đất mênh mông, 4 phương
8 hướng, mình biết đi về hướng nào; Hoặc cụ thể hơn,
một thanh niên, sinh viên trước ngưỡng cửa cuộc đời, nhiều
khi cũng tự hỏi: đâu là Hướng Đi của đời mình; Gần
gủi hơn với chúng ta, những người đang sống trong xã hội
Hoa Kỳ, Hướng Đi luôn luôn luôn là câu hỏi then chốt, căn
bản của hai đảng chính trị lớn trước mùa bầu cử. Bởi
vì phải xác định hướng đi thế nào, vừa giữ được bản
sắc đặc biệt của đảng mình, hoặc bảo thủ, hoặc tự
do, nếu không sẽ bị chính đảng viên của mình từ bỏ vì
không đáp ứng tâm lý, sở thích, lối sống và nếp suy tư
của họ, vừa thích nghi với những biến chuyển lớn đang
hoặc sắp xãy ra trong đời sống kinh tế, chính trị và xã
hội của Hoa Kỳ và thế giới sẽ có những ảnh hưởng quyết
định đến cá nhân họ. Đặc biệt với chúng ta, những Tăng
Ni và Phật tử ở hải ngoại nói chung và ở Hoa Kỳ nói riêng,
đang trải qua một cơn biến động lớn mà ảnh hưởng của
nó đã tác hại nghiêm trọng, không chỉ riêng với Giáo Hội
Thống Nhất mà còn lan rộng đến tất cả các tổ chức và
sinh hoạt nói chung của Phật Giáo Việt Nam hải ngoại. Đặc
biệt nhất là hôm nay, chúng ta đang tìm một mô thức tổ
chức và sinh hoạt cho mình để có thể vượt qua cơn biến
động hiện nay mà tiếp tục con đường chúng ta đã chọn,
đó là: Hoằng pháp độ sinh.
Thỉnh thoảng,
sáng sớm vào giờ các cháu đi học, chúng tôi thấy hai cháu
đi ra cổng của một căn nhà đối diện, một cháu quẹo tay
phải, một cháu quẹo tay trái. Hướng quẹo tay phải để
đến một ngôi trường tiểu học vì cháu khoảng 9 tuổi;
Hướng quẹo tay trái để đến một ngôi trường trung học
vì cháu khoảng 12 tuổi. Hình ảnh đơn giản này cho thấy
một nguyên tắc căn bản: Hướng đi tùy thuộc chính yếu
vào con người. Người ở đây có thể là một cá nhân, cũng
có thể là một tập thể. Hướng đi của người này không
giống với hướng đi của người kia. Hướng đi của tập
thể này không giống với hướng đi của tập thể khác. Khác
biệt về hướng đi như thế xuất phát từ sự khác biệt
của từng cá nhân cũng như sự khác biệt của mỗi tập thể.
Nói đến cá nhân không phải chỉ nói đến cá nhân cha sanh
mẹ đẻ mà muốn nói đến một cá nhân trong tương quan và
chịu sự tác động qua lại với xã hội. Cũng vậy, nói đến
một tập thể, không phải chỉ nói đến tập thể nguyên
thủy mà muốn nói đến một tập thể trong tương quan và
chịu tác động nhân duyên với xã hội và thời đại của
tập thể đó. Do vậy, muốn tìm hiểu hướng đi của ai hoặc
cho ai, muốn biết hướng đi của tập thể nào hoặc cho tập
thế nào, trước tiên và căn bản là phải biết hoặc phải
xác định được họ là ai. Câu hỏi đang được đặt ra
là: Cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ là ai?
Cộng Đồng
Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ là ai?
Trả lới
được câu hỏi này, nghĩa là xác định được “diên mục”,
“căn cước” của Cộng đồng Phật Giáo Việt Nam tại Hoa
Kỳ là ai, chúng ta có thể xem như đi được 2/3 con đường
tìm hướng đi của tập thể này. Phần còn lại chỉ là phần
làm sao để thích nghi với xã hội và thời đại mà tập
thể này đang sống với.
Biến cố
lớn của Phật Giáo Việt Nam hải ngoại hiện nay thực ra
khởi đi từ cái gốc của vấn đề là không xác định được
rõ ràng mình lài ai, dẫn đến hướng đi khác nhau, rồi chống
nhau. Những mâu thuẩn, phân hóa hiện nay rõ ràng không xuất
phát từ sự khác biệt về kinh điển giáo lý, cũng không
xuất phát từ sự khác biệt về nhận thức và sự hành trì
giới luật, cũng không xuất phát từ sự khác biệt giữa
các tông phái. Ngay cả cũng không khác biệt những mục tiêu
hướng đến như tự do, dân chủ, nhân quyền và phục hoạt
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bên nhà. Chỉ duy
nhất khác biệt về cách nhìn và hướng đi, để rồi từ
đó, có một thiểu số người xem những ai khác cách nhìn
hoặc khác hướng đi với mình là những kẻ thù và tìm đủ
mọi cách để triệt hạ, Và triệt hạ bằng những phương
thức, thủ đoạn hoàn toàn không phải Phật giáo. Đó là
nguồn gốc của những cơn bảo tố xãy ra cho Phật giáo Việt
Nam từ trong nước ra đến hải ngoại; Và không phải chỉ
mới xãy ra hiện nay mà trước đây nhiều năm cũng đã có.
Khác cách
nhìn và hướng đi trong cùng một tập thể bởi vì những
cá nhân trong đó không hoặc chưa xác định được mình là
ai.
Vậy, Cộng
đồng Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ là ai?
Đây là tập
thể mà bản sắc cá biệt được cấu thành bởi ba yếu tố:
1- Cộng đồng
Phật giáo;
2- Việt
Nam;
3- Tại
Hoa Kỳ
Cả ba yếu
tố cùng nhau cấu tạo nên “diện mạo” của tập thể này.
Mất một trong ba yếu tố, “diện mạo” của tập thể này
sẽ khác đi.
Yếu tố
Cộng đồng Phật giáo: Đây là danh xưng chỉ cho tập thể
Tăng Ni Phật tử, tập thể của những người con Phật, tập
thể của những người sống, làm việc, tu học và hành đạo
theo lời dạy của Đức Phật. Đây chính là yếu tố quyết
định, quan trọng nhất trong ba yếu tố. Giống như chất DNA
trong cơ thể của mỗi con người khiến cho có thể phân biệt
được người này với người khác. Yếu tố Phật là nền
tảng khiến cho quan niệm sống, lối suy tư và cách hành xử
của tập thể Tăng Ni Phật tử không giống với những tập
thể của các cộng đồng khác trong xã hội. Mức độ khác
biệt nhiều hay ít tùy theo từng vấn đề. Yếu tố Phật,
nói cụ thể, chính là mục đích, lý tưởng của những người
học Phật, tu Phật và hành đạo theo đức Phật. Tuy là có
thiên kinh vạn quyển, tuy là có nhiều tông phái, nhiều pháp
môn tu tập, nhưng mục đích và lý tưởng của những người
học Phật, tu Phật và hành đạo theo đức Phật không gì
khác hơn là sự Giải thoát, như lời phát nguyện mà Tăng
Ni Phật tử đọc tụng mỗi ngày: “Ngã kim phát tâm bất
vị tự cầu nhơn thiên phước báo, Thanh văn Duyên Giác, nãi
chí quyền thừa chư vị Bồ Tát; duy y tối thượng thùa phát
Bồ đề tâm: nguyện dữ pháp giới chúng sanh nhất thời đồng
đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề”. Mục đích và lý
tưởng đó cao quý biết bao: không mong cầu được phước
báo ở các cõi trời, cõi người; cũng không mong cầu thành
đạt các quả thánh như Thanh văn, Duyên Giác, ngay cả đến
các quả vị Bồ tát; Duy nhất chỉ mong cầu được giác ngộ,
giải thoát thành Phật để cứu độ tất cả chúng sanh đều
thành Phật”. Đức Phật đã từng dạy: nước trong bốn
biển đều có chung một vị, đó là vị mặn; giáo pháp của
ngài trong vô số pháp môn cũng chỉ có một vị, đó là vị
giải thoát.
Lý tưởng
và mục tiêu giải thoát được thể hiện cụ thể trong cuộc
sống tu học, hành đạo và ứng xử với cuộc đời nhiều
mặt bằng hai đức tính Từ Bi và Trí Tuệ của đạo Phật.
Từ Bi và Trí Tuệ vừa là hạnh nguyện vừa là phương pháp
tu tập để hướng đến mục tiêu giải thoát.
Do đó, như
chất DNA trong cơ thể con người, mục tiêu và lý tưởng giải
thoát, hay nói đầy đủ là Từ Bi, Trí Tuệ và Giải thoát
là bản sắc đặc thù của người Phật tử, của cộng đồng
Phật giáo, của tập thể Tăng Ni Phật tử. Rời bỏ bản
sắc đặc thù này thì không còn là Phật giáo nữa, là đi
lạc vào tà đạo.
Do vì không
thấy được, không xác định được hoặc đánh mất bản
sắc đặc biệt của mình là Từ Bi, Trí Tuệ và Giải thoát
nên trong cơn biến động đang xãy ra hiện nay để lộ ra hai
thách thức lớn đối với Phật giáo Việt Nam trong và ngoài
nước:
Thách thức
thứ nhất, có thể xem là nội chướng, do chính tự thân của
người tu học và hành đạo đã tha hóa và thế tục hóa mục
đích và lý tưởng cao quý của mình, để rồi trôi lăn trong
“ngũ trược ác thế” với những được mất, khen chê,
phải trái, vốn là danh tướng hư vọng của thế gian;
Thách thức
thứ hai, thuộc về ngoại ma, chỉ chung những chướng duyên
nghịch cảnh từ bên ngoài, đặc biệt chỉ cho những thế
lực vô minh nhằm hủy hoại Phật pháp, vốn thời nào cũng
có, phát xuất từ sự cuồng tín tôn giáo và tham vọng chính
trị… Gọi là thách thức lớn, không phải vì những thế
lực vô minh này mạnh hay yếu, lớn hay nhỏ, mà bởi vì trong
khi ứng phó với những thế lự vô minh này, những người
học Phật, tu Phật và hành đạo theo Đức Phật đã quên
mất mục tiêu giải thoát, đánh mất lòng từ bi và nuôi lớn
sự hận thù. Và như thế, có nghĩa là, trước tiên,
chính mình đã làm suy yếu, sụp đổ cái mà mình muốn bảo
vệ, phục hồi. Lúc bấy giờ chỉ còn là hận thù này chống
trả hận thù khác, bạo lực này muốn tiêu diệt bạo lực
kia. Nói đến bạo lực, chúng ta cũng biết rằng, bạo lực
không phải chỉ là vũ khí gươm dao hay súng đạn trong tay
mà còn là những ý niệm, tư tưởng, ngôn ngữ hàm chứa sự
hận thù muốn hủy diệt người khác. Đâu đây, chúng ta đã
nghe những lời như là hiệu triệu xuất quân, chẳng hạn
như: “Mỗi Phật tử hãy gắng là Bồ Tát Địa Tạng không
ngại có mặt ngay tại ngục tối A-tỳ”, hoặc mỗi Phật
tử hãy như “bồ tát thấy dân kêu gào, gạt nước mằt,
xông mình vào chính trị hà khắc cứu dân mắc nạn chốn
lầm than”. Chúng ta hãy mường tượng thử xem, làm sao có
được “từng đoàn Địa Tạng”, “từng đoàn Bồ Tát”
với tâm lý vọng động, hận thù xông đi bẻ gãy gông cùm
xiềng xích ở bất kỳ đâu, trên trần thế cũng như dưới
địa ngục. Không có bất kỳ một chỗ nào trong kinh điển
Phật giáo chứa đựng một ý niệm và một cảnh tượng thúc
giục bạo lực như vậy. Ngài Địa Tạng thệ nguyện vào
địa ngục hay các vị Bồ Tát vào nơi “chính trị hà khắc
cứu dân mắc nạn lầm than” là với diệu lực từ bi, giải
thoát của các ngài để trước hết, chuyển hóa tội nhân
và kẻ hung ác khiến họ trực ngộ được vô thường, nhân
quả, nghiệp báo mà khởi lên tâm niệm muốn phát Bồ đề
tâm để được giác ngộ. Chính từ một niệm khởi lên đó,
họ được giải thoát khỏi những ngục hình hoặc từ bỏ
con đường cai trị ác độc, và do đó, dân chúng được an
lạc. Chính sự suy diễn, trích dẫn kinh điển nhằm phục
vụ thiên kiến và tham vọng danh lợi của mình là nguy cơ
làm thoái hóa, biến chất và làm lạc hướng Phật giáo.
Đức Đệ
Tam Tăng Thống GHPGVNTN, Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, qua bức
Tâm Thư gởi ra hải ngoại năm 1991 trước khi viên tịch, Ngài
đã khơi dậy ngọn đèn sơ tâm xuất gia để thắp sáng bản
thể tăng già, làm sáng tỏ hướng đi cho Tăng Ni Phật tử
hải ngoại. Nhờ đó, như một sức mạnh tinh thần có khả
năng xóa bỏ những dị biệt, những mâu thuẩn, chư tôn đức
Tăng Ni Phật tử thuộc nhiều hệ phái và tổ chức Giáo hội
khác nhau tại Hoa Kỳ đã cùng ngồi lại thành lập Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ, mở
đầu cho sự kết hợp sinh hoạt tốt đẹp của Phật giáo
Việt Nam hải ngoại, bao gồm đầy đủ các châu. Được như
vậy, vì qua bức Tâm Thư, Tăng Ni Phật Tử Việt Nam hải ngoại
nói chung và tại Hoa Kỳ nói riêng thấy rõ được diện mục
chân thực của chính mình và từ đó cũng biết được hướng
đi của mình. Ngài đã tha thiết khuyên nhủ: “Trong lịch
sử truyền bá Phật giáo Việt Nam cũng như thế giới, có
lúc rất bi thảm đầy tủi nhục, nhưng có lúc vẻ vang cũng
đáng tự hào. Lúc bi thảm là lúc bản thể của Tăng Ni bị
lu mờ, nội bộ của Tăng Ni bị phân hóa, thành phần của
Tăng Ni có nhiều điểm dị biệt, giới hạnh suy kém và hiểu
biết đạo lý một cách cục bộ phiến diện. Trái lại, lúc
vẻ vang là lúc nội bộ chúng Tăng hòa hiệp, biết gạt bỏ
những quyền lợi riêng tư, những ngã chấp tầm thường để
tiến xa trên con đường tịnh hạnh, lấy giác ngộ giải thoát
làm cứu cánh, lấy bản nguyện độ sanh làm sự nghiệp…”
Và Ngài tha thiết kêu gọi: “hãy phát huy hơn nữa bản thể
của Tăng Già mà đoàn kết hòa hiệp, hãy cùng nhau thể hiện
tinh thần tương kính, tương thuận, tương giáo, tưong sám,
như luật dạy…”
Tiếc thay,
16 năm sau, qua hình thức của Giáo Chỉ và Thông Bạch Hướng
Dẫn Thi Hành Giáo Chỉ này, Tăng Ni Phật Tử hải ngoại đã
nhận được một nội dung kêu gọi sự đấu tranh hận thù,
kích động sự thanh trừng nội bộ, thực hiện những thủ
đoạn thế gian, đưa đến sự tan vỡ các tổ chức Giáo hội
hải ngoại, đặc biệt là Giáo Hội Hoa Kỳ, vốn là thành
tựu của không biết bao nhiêu tâm nguyện và công lao của
chư tôn đức Tăng Ni Phật tử và cũng là hoài bảo thiết
tha của Đức Đệ Tam Tăng Thống GHPGVNTN.
Đây là
bài học lớn, là kinh nghiệm “bi thảm đầy tủi nhục”
để Tăng Ni Phật tử ý thức được rằng phải biết rõ
“diện mục” của mình và Hướng Đi của mình không có
gì khác hơn là “tiến xa trên con đường tịnh hạnh, lấy
giác ngộ giải thoát làm cứu cánh, lấy bản nguyện độ
sanh làm sự nghiệp”. Được như vậy, sẽ không còn bị
lạc trong lớp sương mù dày đặc của huyển tướng thế
gian.
Yếu tố
Việt Nam: Sau yếu tố “Cộng đồng Phật giáo” như là
một chất DNA trong cơ thể con người, để phân biệt với
các cộng đồng khác trong xã hội, yếu tố Việt Nam xác định
rõ hơn “diện mục”, “căn cước” của tập thể Tăng
Ni Phật tử trong tổ chức này về mặt nguồn gốc, quê hương,
thầy tổ, văn hóa, truyền thống để có thể phân biệt được
với các tập thể Tăng Ni Phật tử Thái Lan, Tăng Ni Phật
Tử Triều Tiên, Tăng Ni Phật Tử Tây Tạng…
Hơn nữa,
yếu tố Việt Nam còn nói lên mối liên hệ gắn bó của tập
thể Tăng Ni Phật tử Việt Nam ở Hoa Kỳ với đồng bào và
Phật tử Việt Nam trong nước về tất cả những thăng trầm
vinh nhục, những thất bại và thành công, những khổ nạn
và hy vọng, và đặc biệt về những công cuộc vận động
cho một Việt Nam thực sự tự do, dân chủ, nhân quyền và
toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải.
Yếu tố
Việt Nam cũng nói lên mối liên hệ gắn bó của tập thể
Tăng Ni Phật tử Việt Nam ở Hoa Kỳ với những ước vọng
cao quý, chính đáng của Tăng Ni Phật tử ở Việt Nam về
một Giáo Hội Phật giáo Việt Nam độc lập, thoát khỏi sự
kiểm soát của Nhà nước để có thể phát triển góp phần
xây dựng nền tảng đạo đức cho xã hội Việt Nam. Phục
hưng Phật giáo Việt Nam vốn đã bị suy yếu sau một thời
gian dài chiến tranh và dưới chế độ độc đảng vừa là
bổn phận, trách nhiệm vừa là hạnh nguyện độ sanh của
Tăng Ni Phật Tử Việt Nam trong và ngoài nước. Nhưng phục
hưng Phật giáo Việt Nam không phải là chuyện làm có thể
được thực hiện trong một sớm một chiều, ngay cả cũng
không làm được trong một vài thế hệ. Hiện nay trên 50 triệu
thanh thiếu niên Việt Nam thuộc thế hệ sinh sau 1975 hoặc
chưa đến 10 tuổi trong năm này (trong tổng số dân gần 84
triệu), vì điều kiện kinh tế và xã hội, đã không có cơ
hội biết hoặc tiếp xúc với Phật giáo. Với kinh nghiệm
Phật giáo Đại Hàn, vốn đã từng là quốc giáo của xứ
này, nay trở thành chỉ là một tôn giáo thiểu số so với
Tin Lành và Thiên Chúa mới truyền vào trong những thế kỷ
gần đây. Hình ảnh đó có thể là hình ảnh tương lai của
Phật Giáo Việt Nam trong lòng đất nước Việt Nam, nơi mà
trong nhiều triều đại, Phật giáo cũng đã từng là quốc
giáo. Những nổ lực và kế hoạch phục hưng Phật giáo Việt
Nam, nếu có, phải là những nổ lực phục hưng nền văn hóa
Việt Nam với những sinh hoạt, nghi lễ truyền thống dân gian
ở hạ tầng và với những chương trình đào tạo thuộc lãnh
vực tư tưởng, giáo dục, hoằng pháp ở thượng tầng. Đức
Khổng Tử đã dạy “bách niên chi kế mạc như thụ nhân”.
Phục hưng văn hóa Việt Nam, phục hưng Phật giáo Việt Nam
chính là kế hoạch trăm năm trồng người. Và do đó, dù khó
khăn bao nhiêu cũng phải vượt qua chứ không phải chờ cho
sạch bóng Cộng sản rồi mới bắt đầu.
Yếu tố
Hoa Kỳ: Đây là yếu tố cuối cùng để tạo thành bản
sắc của tập thể Tăng Ni Phật Tử Việt Nam tại Hoa Kỳ
khác với tập thể Tăng Ni Phật Tử Việt Nam ở trong nước,
đặc biệt về phương diện tâm lý và quan điểm chính trị.
Yếu tố này cho thấy tâm lý và quan điểm chính trị của
Tăng Ni Phật Tử Việt Nam tại Hoa Kỳ liên hệ gắn bó và
chia xẻ với tâm lý và quan điểm chính trị của cộng đồng
người Việt hải ngoại nói chung và tại Hoa Kỳ nói riêng
vì có chung một hoàn cảnh tỵ nạn cộng sản. Do bản chất
từ bi, trí tuệ và giải thoát, sự phát biểu và bày tỏ
tâm lý và quan điểm chính trị của Tăng Ni Phật Tử Việt
Nam luôn luôn trong cung cách thể hiện lòng từ bi và không
khích động lòng thù hận, vì luôn luôn tâm niệm rằng cộng
đồng người Việt hải ngoại và tương lai của Việt Nam
cần được xây dựng bằng những chất liệu tốt trên nền
tảng đạo đức của các tôn giáo nói chung. Tự do của mình
không thể xây dựng trên sự hủy diệt tự do của nguời
khác. Nhân quyền của mình không thể thành tựu bằng sự
giẩm đạp lên nhân quyền của người khác.
Mẫu đối
thoại sau đây giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma và một vị Lạt
Ma Tây Tạng, vốn là một tù nhân trong một nhà tù khủng
khiếp của Trung Cộng, đã cho thấy sức nhẫn nại và cũng
là một sức mạnh vô biên của những người con Phật:
-
Đức Đạt Lai Lạt Ma hỏi: Trong khi bị tra tấn ác độc,
thầy có sợ không?
-
Thầy Lạt Ma trả lời: Bạch Ngài, con không sợ. Điều duy
nhất con sợ là mình đánh mất lòng từ.”
Đức Đạt
Lai Lạt Ma cũng với một tinh thần như thế, Ngài tranh đấu
cho nền tự trị của quốc gia Tây Tạng của Ngài và đã
nhận được sự hậu thuẩn và kính trọng của các vị nguyên
thủ quốc gia trên thế giới.
Kính bạch
chư tôn đức Tăng Ni,
Kính thưa
quý đạo hữu,
Hy vọng những
trình bày trên đây phần nào đã cho thấy được diện mục
của Cộng đồng Tăng Ni Phật Tử Việt Nam tại Hoa Kỳ. Biết
được mình là ai cũng là lúc biết mình đi hướng nào.
Trân trọng
cám ơn và kính chào chư tôn đức và quý liệt vị.
Thích Tín
Nghĩa
01-13-2008
09:23:56
