HIỆN TÌNH GIÁO
HỘI PHẬTGIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
HẢI NGOẠI
TẠI HOA KỲ
trong bối cảnh
chung của Phật giáo Việt Nam Hải ngoại
Thượng
Tọa Thích Vân Đàm
Nguyên Tổng
vụ trưởng Tổng vụ Giáo dục GHPGVNTN/HK
trình bày
trong Đại Hội Bất Thường GHPGVNTNHNHK, ngày 11 tháng 01 năm
2008 tại Chùa Phổ Đà thành phố Santa Ana, California, Hoa Kỳ
do Hòa Thượng Chánh thư ký Hội Đồng Giáo Phẩm GHPGVNTNHN/Hoa-Kỳ,
Thích Thắng Hoan triệu tâp.
______________________________________________________________________
Nam Mô Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,
Kính bạch
chư tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng, Ni,
Kính thưa
quý đạo hữu,
Vào ngày
10 tháng 9 năm 1991, đại lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, Chánh
Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN đã gửi đến chư
Tăng, Ni và Phật tử hải ngoại Tâm Thư kêu gọi phát huy
bản thể thanh tịnh hòa hợp của Tăng già để phát triển
nền Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Tâm Thư có
đoạn viết:
“Tôi thiết
tha kêu gọi quý vị hãy phát huy hơn nữa bản thể của Tăng
già mà đoàn kết hòa hiệp, hãy cùng nhau thể hiện tinh thần
tương kính, tương thuận, tương giáo, tương sám, như luật
dạy. Hãy vì sự tồn tại của Giáo Hội, vì sự quang
vinh của Đạo pháp và dân tộc mà gạt bỏ những quan điểm
dị biệt để cùng nhau hoằng dương Chánh pháp.”
Tâm Thư của
đại lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu nhấn mạnh đến vấn
đề then chốt và trọng yếu nhất để xây dựng và phát
triển GHPGVNTN cũng như nền Phật Giáo Việt Nam tại xứ người,
đó là “phát huy bản thể thanh tịnh hòa hợp của Tăng già.”
Bản thể thanh tịnh hòa hợp ấy lấy việc nghiêm trì giới-định-tuệ
làm chất liệu nền tảng và cương yếu. Tăng gìa nếu
không hành trì nghiêm cẩn giới-định-tuệ sẽ tự mình đánh
mất phẩm đức thực chứng giác ngộ và giải thoát.
Do vậy sẽ không còn giữ được vị thế chúng trung tôn,
sẽ không còn đủ tư cách là trưởng tử của đức Như Lai
để thừa tiếp sứ mệnh hoằng dương Chánh pháp và tiếp
độ quần sinh của Ngài. Giáo Hội lấy Tăng già làm
chủ lực điều hướng mọi công tác Phật sự. Chính
vì vậy, Tăng già thanh tịnh và hòa hợp là tấm gương sáng
cho hàng Phật tử tại gia noi theo, là thành trì kiên cố cho
tín tâm hưng phát, là tiêu chí cao cả cho đường hướng và
hành hoạt của Giáo Hội.
Thừa hành
lời kêu gọi trong Tâm Thư của đại lão Hòa Thượng Thích
Đôn Hậu, chư Tăng, Ni và Phật tử tại Hoa Kỳ đã cùng nhau
ngồi lại và nỗ lực vận động cho sự thống hợp của
Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, mà thành quả là một Đại
Hội Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ đã được
thực hiện vào cuối tháng 9 năm 1992 tại thành phố San Jose,
California, Hoa Kỳ. Chính trong Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo
Việt Nam tại Hoa Kỳ đó mà GHPGVNTNHN/HK đã được thành lập.
Sự thành tựu của Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo Việt
Nam tại Hoa Kỳ và sự ra đời của GHPGVNTNHN/HK phát xuất
từ động lực thật mãnh liệt là chí nguyện của Tăng Ni
và Phật tử Việt Nam tại Hoa Kỳ muốn cùng nhau ngồi lại
trong tinh thần thanh tịnh hòa hợp, để nhất tâm hướng đến
công cuộc hoằng dương Chánh pháp tại hải ngoại và công
cuộc vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền và phục
hoạt GHPGVNTN trong nước.
Chí nguyện
phụng sự Phật pháp trong tinh thần thanh tịnh hòa hợp của
Tăng già Việt Nam tại Hoa Kỳ lúc ban đầu ấy đã bị mai
một theo thời gian, bởi vì những hành vi hoen ố và thao túng
Giáo Hội của một vài cá nhân càng lúc càng lộ rõ.
Mọi quyết định của Văn Phòng II VHĐ và Giáo Hội Hoa Kỳ
càng ngày càng bị thâu tóm trong tay một vài cá nhân.
Vì vậy đã dẫn đến tình trạng bế tắc trong sự phối
hợp Phật sự tại hải ngoại giữa Giáo Hội Thống Nhất
các châu và Văn Phòng II VHĐ. Một vị giáo phẩm trong
Giáo Hội Hoa Kỳ và Văn Phòng II VHĐ đã bị kết án về tội
vu khống và sách nhiễu tình dục tại tòa án của tiểu bang
Colorado vẫn nghiễm nhiên ngồi chiễm chệ trong cương vị
lãnh đạo Giáo Hội, bất chấp sự phản đối và bất bình
của đa số các thành viên. Một cư sĩ đang đảm nhận
các vai trò quan trọng trong GHTN trong và ngoài nước lại là
người nhận tiền và làm việc cho một cơ quan chính trị
của Mỹ (NED), đã làm cho các thành viên khác trong Giáo Hội
đặc biệt nghi ngờ đến lập trường và mục đích phục
vụ của vị cư sĩ này. Một vài cá nhân vì muốn bảo
vệ chức vụ bất xứng của mình đã âm mưu vận động Viện
Hóa Đạo ra hết Giáo chỉ lưu nhiệm này đến Giáo chỉ lưu
nhiệm khác trong suốt các kỳ Đại Hội Khoáng Đại của
Giáo Hội.
Những vị
làm hoen ố và thao túng Giáo Hội đã không từ bất cứ hành
vi hay thủ đoạn thế tục nào để vừa loại trừ thành phần
không tín nhiệm họ, vừa bảo vệ địa vị của họ trong
Giáo Hội. Chính trong ý đồ như vậy mà nhiều bài viết
qua nhiều tên khác nhau đã liên tục được phổ biến trên
các diễn đàn công cộng với lời lẽ thô tục và nội dung
xuyên tạc sự thật, vu khống, chụp mũ hết vị giáo phẩm
này đến vị giáo phẩm khác, hết tổ chức Phật giáo này
đến tổ chức Phật giáo kia. Đó là chiến dịch tung
hỏa mù gây hoang mang dư luận để họ thực hiện bước kế
tiếp là thanh trừng những nhân sự không tín nhiệm họ trong
Giáo Hội, mà hệ quả theo đó đã rõ ràng khi Giáo Chỉ số
9 của Viện Tăng Thống và Thông Bạch Hướng dẫn thi hành
Giáo chỉ số 9 của Viện Hóa Đạo đã được Phòng Thông
Tin Phật Giáo Quốc Tế tại Paris công bố khắp trên các phương
tiện truyền thông đại chúng vào giữa và cuối tháng 9 năm
2007.
Cho đến
khi Giáo Chỉ số 9 và Thông Bạch hướng dẫn thi hành Giáo
chỉ số 9 được công bố, chư tôn giáo phẩm tại hải ngoại
trong Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống GHPGVNTN,
Hội Đồng Giáo Phẩm và Hội Đồng Điều Hành của các GHPGVNTNHN
tại Hoa Kỳ, tại Âu châu, tại Úc châu và tại Canada đều
hoàn toàn không hay biết gì, không hề được tham khảo, không
hề được mời tham dự bất cứ cuôc họp nào. Đây
là việc làm sai trái với Hiến Chương của GHPGVNTN, với Quyết
Định số 27 của Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Đạo ký ban
hành vào tháng 12 năm 1992, với Quy Chế của các GHPGVNTNHN tại
các châu lục.
Vai trò các
vị Tổng Ủy viên liên lạc các châu trong cơ cấu Văn Phòng
II mới theo Giáo Chỉ số 9 và sẽ là Chủ tịch HĐĐH của
GHTN mới theo Thông Bạch, trên thực tế hoàn toàn không những
không thích đáng mà còn tạo sự chia rẽ trong nội bộ các
Giáo Hội tại các châu lục đó. Lý do, các vị
Tổng Ủy viên liên lạc ấy đã được chỉ định riêng của
Viện Hóa Đạo trong nước mà không hề có bất cứ một hội
ý, một đồng thuận nào giữa GH trong và ngoài nước. Khi
được chỉ định mà không có sự đồng thuận của tập
thể GH tại địa phương như vậy, vị Tổng Ủy viên liên
lạc chỉ còn là người xa lạ của một tổ chức nào đó
áp đặt một cách khiên cưỡng vào trong sinh hoạt của các
cộng đồng Phật giáo đã có truyền thống hòa hợp từ trước.
Điều 3 của
Thông Bạch hướng dẫn thi hành Giáo chỉ số 9 nói đến việc
“giải tán các Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
Hải Ngoại (GHPGVNTNHN-HK) tại Hoa kỳ và các GHPGVNTN-HN
tại các châu được hình thành theo Quyết Định số 27-VPLV/VHĐ
do Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Đạo ban hành ngày 10.12.1992.”
là một điều khoản tạo khủng hoảng cho cộng đồng Phật
Giáo Việt Nam tại hải ngoại. Về mặt tình cảm, nó
nhẫn tâm dẫm đạp lên bao nhiêu tấm lòng, bao nhiêu chí nguyện,
bao nhiêu hy sinh và đóng góp của Tăng, Ni và Phật tử hải
ngoại suốt mấy thập niên qua cho sự tồn tại và phát triển
GHPGVNTN trong và ngoài nước. Về mặt pháp lý, nó là
một ý tưởng hão huyền không thực được cưỡng ép thi
hành trong một hoàn cảnh thực tế hoàn toàn khác biệt, bởi
vì các GHPGVNTNHN tại các châu lục đều có đầy đủ pháp
nhân và pháp lý của họ tại các quốc gia sở tại.
Các GH này tồn tại và được bảo vệ bởi nền luật pháp
của mỗi quốc gia nơi mà GH đó có mặt. Các GHPGVNTN
tại các châu lục ở hải ngoại chỉ xem GHPGVNTN trong nước
là biểu tượng tinh thần, mà không là thế lực có thẩm
quyền trên phương diện chế tài pháp lý.
Trong Giáo
Chỉ số 9 cũng như Thông Bạch hướng dẫn thi hành Giáo chỉ
số 9 đều đã đưa ra nhận định: “… đồng thời với
cuộc đàn áp trong nước nhằm tiêu diệt GHPGVNTN, một số
phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại tiếp
tay phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đường
hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt
tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế.”
Lời nhận định trên nhân danh cả hai Hội Đồng Viện Tăng
Thống và Viện Hóa Đạo của Giáo Hội, nhưng hoàn toàn không
dựa trên cơ sở về thủ tục pháp lý khi xử lý các vấn
đề vi phạm điều luật của Hiến Chương hay Quy Chế của
Giáo Hội nếu có. Nhận định trên cũng chứng tỏ rằng
Hội Đồng Lưỡng Viện đã không quan tâm đến tâm nguyện
sắt son của bao nhiêu Tăng, Ni và Phật tử tại hải ngoại
vốn một lòng một dạ với Giáo Hội từ mấy chục năm qua.
Đó không những là niềm đau thấu tận tim gan đối với những
tấm lòng hy sinh vì Giáo Hội, mà còn là cách hành xử đi
ngược lại tinh thần thanh tịnh hòa hợp và từ bi trí tuệ
của đạo Phật!
Theo chương
trình đã định, vào ngày 5, 6 và 7 tháng 10 năm 2007, GHPGVNTNHN/HK
sẽ tổ chức Đại Hội Thường Niên tại thành phố Houston,
bang Texas. Tuy nhiên, sau khi Giáo chỉ số 9 và Thông bạch
hướng dẫn thi hành Giáo chỉ số 9 được công bố, Hòa Thượng
Thích Hộ Giác, nhân danh Chủ tịch Văn phòng II VHĐ mới đã
ký và ban hành Thông Tư Khẩn ngày 27 tháng 9 năm 2007 đình
hoãn vô thời hạn Đại Hội Thường Niên của GH.
Nhưng, đến ngày 9 tháng 10 năm 2007, Hòa Thượng Thích Hộ
Giác lại nhân danh Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHN/HK
ký và ban hành Thông Tư triệu tập Đại Hội Bất Thường
tại thành phố Port Arthur, bang Texas, vào ngày 10 tháng 11 năm
2007.
Trong Đại
Hội Bất Thường ngày 10 tháng 11 năm 2007 nói trên, mặc dù
số lượng thành viên của Hội Đồng Giáo Phẩm và Hội Đồng
Điều Hành tham dự không đủ quá bán, Đại Hội đó cũng
đã ngang nhiên quyết định mọi Phật sự quan trọng, trong
đó có việc tự ý loại trừ quá bán thành viên của hai Hội
Đồng Giám Phẩm và Điều Hành, vì phản đối tính hợp pháp
của Đại Hội nên đã không tham dự, và tiếp tục cưỡng
chiếm danh nghĩa của GHPGVNTNHN/HK bất chấp điều lệ của
Quy Chế và Nội Quy.
Đúng ra trong
tình hình bất ổn của Giáo Hội như vậy, Đại Hội Thường
Niên phải được tiếp tục tổ chức để qua đó Giáo Hội
có cơ hội giải quyết những Phật sự trọng đại hầu hóa
giải những dị biệt, tạo sự hòa hợp trong nội bộ và
cùng nhau hỗ trợ tích cực cho GHPGVNTN trong nước. Nếu
cho rằng vì khâm tuân theo Giáo chỉ số 9 và Thông bạch hướng
dẫn thi hành Giáo chỉ số 9, cho nên phải giải tán Giáo Hội
thì Đại Hội Thường Niên lại càng phải được thực hiện
để qua đó bàn bạc về một phương thức giải tán Giáo
Hội theo đúng luật pháp Hoa Kỳ và pháp lý của Giáo Hội
về việc thành lập và giải tán. Việc giải tán Giáo
Hội không thể được thực hiện bằng một lời tuyên bố
suông mà phải có lý do chính đáng và Đại Hội Khoáng Đại
với đầy đủ thành viên và đại biểu có thẩm quyền quyết
định thì mới đúng pháp. Thực tế, chính Đại Hội
Bất Thường ngày 10 tháng 11 năm 2007 tại Port Arthur, Texas đã
xác minh rõ ràng là các thành viên tham dự trong Đại Hội
đó, mặc dù đã tuyên bố khâm tuân Giáo chỉ và Thông bạch,
nhưng sự thật quý vị ấy đã hoàn toàn không khâm tuân.
Lý do là vì, Đại Hội Bất Thường đó đã không tiến hành
đúng theo thủ tục pháp lý của Giáo Hội và quốc gia Hoa
Kỳ trong việc giải tán Giáo Hội. Đại Hội Bất Thường
đó chỉ là một thứ Đại Hội Thường Niên nấp dưới tên
gọi là Bất Thường để nhằm mục đích loại trừ tất
cả các thành viên không tín nhiệm thành phần thiểu số thao
túng Giáo Hội mà thôi. Như vậy, cho đến nay đã không
có Giáo Hội nào thể hiện sự khâm tuân đối với Giáo chỉ
và Thông bạch. Chính thực tế đó đã nói lên một thực
trạng hiển nhiên rằng Giáo chỉ số 9 và Thông bạch hướng
dẫn thi hành Giáo chỉ số 9 là hai văn bản đã không đáp
ứng đúng đắn nguyện vọng của tất cả tăng ni và Phật
tử hải ngoại và bởi vì vậy hai văn bản đó không có giá
trị thi hành.
Chính vì
không đáp ứng đúng nguyện vọng của Tăng Ni và Phật tử
hải ngoại và không có giá trị thực thi, cho nên Giáo chỉ
số 9 và Thông bạch hướng dẫn thi hành Giáo chỉ số 9 một
khi công bố đã gây nên bao nhiêu hậu quả tai hại cho Phật
Giáo Việt Nam tại hải ngoại trong giai đoạn hiện nay.
Những hậu quả tai hại đối với Phật Giáo Việt Nam tại
hải ngoại như thế nào? Sau đây xin đưa ra ba hậu quả
nghiêm trọng nhất:
1. Vì
một vài cá nhân thao túng Giáo Hội để mưu đồ riêng tư
đã lôi cuốn GHPGVNTN nói riêng và Phật Giáo Việt Nam nói
chung đi vào khuynh hướng sinh hoạt mang sắc thái thế tục
và phi Chánh pháp. Bằng chứng cụ thể là thành phần
thao túng Giáo Hội thường xuyên núp dưới danh nghĩa Giáo
Hội Thống Nhất, nhưng sử dụng những thủ đoạn thế gian
và mánh khóe chính trị. Chẳng hạn dùng biện pháp mà
họ gọi là “thanh trừng nội bộ” giống như các đảng
phái chính trị để giải quyết vấn đề nhân sự trong Giáo
Hội; trước khi “thanh trừng nội bộ” thì mở chiến dịch
vu khống, chụp mũ, buộc tội không bằng chứng; lợi dụng
danh nghĩa và uy tín của nhị vị đại lão Hòa Thượng Thích
Huyền Quang và Thích Quảng Độ để loại trừ người này
bảo vệ người kia, ra hết Giáo chỉ lưu nhiệm này đến
Giáo chỉ lưu nhiệm khác; khích động tinh thần chống
cộng của người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại
để đánh phá và hãm hại chư Tăng, Ni và Phật tử không
tín nhiệm những vị thao túng Giáo Hội; cổ võ lòng thù hận
trong Phật giáo để triệt tiêu mọi thành phần đi ngược
lại đường lối thao túng Giáo Hội của họ; biến Giáo Hội
trở thành tổ chức hay thế lực chỉ biết làm duy nhất mỗi
một việc là chống cộng cho đến một mất một còn, mà
không quan tâm để thực hiện những Phật sự trọng đại
khác như hoằng pháp, đào tạo Tăng, Ni và hướng dẫn Phật
tử tu học, v.v…; giải thích xuyên tạc và thế tục
hóa tinh thần của Chánh pháp như đưa ra luận điểm “biến
tướng Bát chánh đạo” hay gọi “chế độ cộng sản là
Tập đế trong Tứ đế”, v.v… Chính vì những phương
thức hành đạo sai Chánh pháp và thế tục hóa Phật giáo
như vậy, cho nên, ngày nay, ngay cả đến chư Tăng, Ni đạo
hạnh và Phật tử thuần thành phát nguyện chuyên tu cầu giác
ngộ giải thoát hay không muốn tham gia sinh hoạt Giáo Hội
cũng bị đánh phá và chụp mũ.
2. Vì
chủ trương và giải thích xuyên tạc của một vài cá nhân
thao túng Giáo Hội đối với tinh thần “trung kiên”, đối
với ý nghĩa đích thực của sự việc “khâm tuân hay không
khâm tuân” theo Giáo chỉ và Thông bạch, và vì sự vu khống
và chụp mũ đối với Tăng, Ni và Phật tử là “thân
Cộng, tiếp tay cho Cộng sản, làm lợi cho Cộng sản, muốn
hòa hợp và hòa giải với GHPGVN và cộng sản” v.v…của
thành phần thao túng này, cho nên đã tạo ra sự hoang mang,
nghi ngờ, phân hóa và khủng hoảng sâu nặng từ trong nội
bộ Giáo Hội Thống Nhất ra đến cộng đồng Phật Giáo Việt
Nam tại hải ngoại. Sự phân hóa và khủng hoảng
này là một biến cố tàn hại đối với Phật Giáo Việt
Nam tại hải ngoại chưa từng diễn ra từ ba thập niên qua,
và chắc chắn di chứng của thảm trạng này sẽ còn tiếp
diễn và gây tai hại lâu dài cho Phật Giáo Việt Nam tại
hải ngoại.
3. Từ
sự phân hóa và khủng hoảng của Phật Giáo Việt Nam tại
hải ngoại dẫn đến sự suy kiệt nội lực hòa hợp và thống
nhất của đại khối Phật Giáo Việt Nam tại hải ngoại.
Qua đó đưa tới hệ quả tất yếu là làm tổn thương nghiêm
trọng sức mạnh hỗ trợ hữu hiệu cho công cuộc vận động
tự do, dân chủ, nhân quyền và phục hoạt GHPGVNTN trong nước.
Điều tệ hại hơn nữa là thành phần thao túng Giáo Hội
và các thế lực ngoại đạo, các cá nhân và tổ chức cực
đoan đã lợi dụng tình hình khủng hoảng và nhân danh tự
do, dân chủ, nhân quyền và phục hoạt GHPGVNTN trong nước
để trục lợi và đánh phá một cách không khoan dung tất
cả những ai bị họ vu khống và chụp mũ, dù trên thực tế
đó chỉ là sự vu khống và chụp mũ không bằng chứng.
Kính bạch
chư Tôn Đức,
Kính thưa
quý đạo hữu,
Qua phần
trình bày một cách tổng quát hiện tình của GHPGVNTNHN-HK nói
riêng và Phật Giáo Việt Nam nói chung ở trên, chúng ta có
thể đi đến mấy điểm đúc kết chính yếu như sau:
1. Vì
Giáo chỉ số 9 và Thông bạch hướng dẫn thi hành Giáo chỉ
số 9, dù có ấn ký của Đức Tăng Thống và Hòa Thượng
Viện Trưởng, nhưng thực chất chỉ là hình thức và phương
cách mà một vài cá nhân âm mưu thao túng Giáo Hội cho ý đồ
riêng tư đã dàn dựng, mà qua đó đã vi phạm Hiến Chương
của Giáo Hội, vi phạm Quyết Định số 27 của Quyền Viện
Trưởng Viện Hóa Đạo ký ban hành tháng 12 năm 1992, hơn nữa
Giáo chỉ và Thông bạch đó đã không đáp ứng được đúng
đắn tâm nguyện của Tăng, Ni và Phật tử lại còn tạo ra
sự khủng hoảng và phân hóa trầm trọng cho cộng đồng Phật
Giáo Việt Nam tại hải ngoại, cho nên, chúng ta không thể
cúi đầu khâm tuân.
2. Vì
là những Tăng, Ni và Phật tử đã từng phục vụ hay được
trưởng dưỡng trong ngôi nhà GHPGVNTN suốt trên bốn mươi
năm qua từ trong nước ra đến hải ngoại, tất cả chúng
ta đều vẫn một lòng một dạ sắt son với lý tưởng phụng
sự Đạo pháp và Dân tộc của GHPGVNTN. Chính trong tâm
nguyện ấy, tất cả chúng ta vẫn luôn luôn giữ vừng lập
trường trước sau như một là tranh đấu cho một đất nước
Việt Nam tự do, dân chủ, nhân quyền và thịnh vượng, cũng
như sẽ tiếp tục không ngừng góp phần vào công cuộc vận
động cho nền tự do tôn giáo tại Việt Nam.
3. Vì
Đại Hội Bất Thường ngày 10 tháng 11 năm 2007 tại thành
phố Port Arthur, Texas của GHPGVNTNHN-HK đã vi phạm Quy Chế,
đã đi ngược lại nguyện vọng của quá bán thành viên trong
Hội Đồng Giáo Phẩm và Hội Đồng Điều Hành, và là một
âm mưu loại trừ các thành viên không tín nhiệm thành phần
thao tùng Giáo Hội, cho nên, hôm nay tất cả chúng ta gồm quá
bán thành viên của Hội Đồng Giáo Phẩm và Hội Đồng Điều
Hành của GHPGVNTNHN-HK đồng thanh xác định rằng:
a. Chúng
ta không thừa nhận tư cách hợp pháp và chính thống của
GHPGVNTNHN-HK được duy trì qua Đại Hội Bất Thường ngày
10 tháng 11 năm 2007 tại thành phố Port Arthur, Texas;
b. Vì
để tránh sự tái diễn đau thương của lịch sử về một
thảm trạng có hai Giáo Hội cùng danh nghĩa song song hoạt động
và dẫn đến sự phân hóa bất lợi cho cộng đồng Phật
Giáo Việt Nam tại hải ngoại, chúng ta sẽ tự nguyện chấm
dứt vai trò và nhiệm vụ của mình đối với GHPGVNTNHN-HK,
dù trên thực tế pháp lý và nhân sự chúng ta có thẩm quyền
tiếp tục với danh nghĩa của Giáo Hội ấy.
4. Qua
cơn biến động sâu xa hiện nay, Phật Giáo Việt Nam tại hải
ngoại cần phải nhìn rõ vào bản chất của vấn đề để
từ đó rút tỉa ra bài học bổ ích hầu góp phần kiến hiệu
vào việc vạch định hướng đi tới tươi sáng hơn.
Bản chất của vấn đề là, Phật Giáo sở dĩ có thể tồn
tại và phát triển trên khắp thế giới trải qua một quá
trình lịch sử lâu dài trên hai mươi lăm thế kỷ là vì không
bao giờ đánh mất hay làm chệch hướng con đường cao rộng
thực chứng giác ngộ và giải thoát, dù phải ứng xử trong
bất cứ môi trường hành hoạt nào, nhập thế hay xuất thế,
thời bình hay thời loạn, chánh pháp hay mạt pháp.
Đó cũng chính là nội lực thâm sâu và sở trường căn bản
nhất của Phật Giáo. Đánh mất nó hay làm chệch hướng
đi đó, Phật Giáo sẽ tức khắc rơi vào con đường nhỏ
hẹp, bế tắc và khủng hoảng! Hiện tình của GHPGVNTN
nói riêng và Phật Giáo Việt Nam tại hải ngoại nói chung
chính là bắng chứng cụ thể nhất mà chúng ta ai cũng cảm
nhận được.
Trân trọng
kính chào và thành kính cảm ơn chư Tôn Đức cùng liệt quý
vị.
01-13-2008
09:23:45
