THƯA CHUYỆN VỚI NGƯỜI
CƯ SĨ
NẤP SAU
TÂM THƯ CỦA T.T. THÍCH CHƠN TÂM
______________________________________________________________________
Kính gửi:
Đạo hữu Giám đốc Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
Thưa đạo
hữu,
Theo dõi những
dữ kiện liên tiếp xảy ra trong Giáo Hội PGVN Thống Nhất
trong và ngoài nước trong thời gian gần đây, chúng tôi hoàn
toàn tán đồng quan điểm Thỉnh Nguyện Thư của GHTN tại
Canada đệ trình H.T. Viện trưởng vào ngày 01/01/2006. Thỉnh
Nguyện Thư ấy đã góp ý thẳng thắn để cảnh giác về
cung cách làm việc sai trái, lạm quyền của đạo hữu và
một vài thành viên chưa tiện nêu tên của GH tại Hoa Kỳ.
Tưởng rằng
sau thư thỉnh nguyện ấy, quý vị sẽ thức tỉnh, sám hối
với nhị vị Hòa thượng lãnh đạo Lưỡng viện, và thay
đổi cung cách làm việc trong GH, nào ngờ, vẫn chứng nào
tật nấy, quý vị đã phản ứng bằng những lá thư rơi,
thư nặc danh, những thông cáo báo chí, vân vân, cho thấy hình
ảnh rất thấp kém của những người “ném đá giấu tay”,
quýnh quáng chạy tội, viết trăng viết cuội, lời lẽ hung
hăng, thô kệch, kém văn hóa, không còn phẩm chất của người
con Phật. Trước những con người “hết thuốc chữa” như
thế, thiết nghĩ không còn gì đáng phải nói nữa. Nhưng không
nói thì quý vị lại tiếp tục hoành hành phá hoại, nên phải
bất đắc dĩ mà nói. Điều đó người phá hoại nên tự
xét lỗi, không nên thứ chi cũng đổ lỗi cho người góp ý
xây dựng.
Thưa đạo
hữu,
Sở dĩ chúng
tôi phải thưa chuyện với đạo hữu qua Tâm Thư của T.T.
Thích Chơn Tâm là vì chúng tôi khẳng định bức Tâm Thư ấy
không phải do T.T. Chơn Tâm viết mà lại do chính đạo hữu
thảo ra trong một tâm trạng bấn loạn, luýnh quýnh, hớt hãi,
thiếu tự chủ. Về hình thức lẫn nội dung, có mấy điểm
khiến chúng tôi xác định tác giả không phải là một Tăng
sĩ, mà cũng không phải là một cư sĩ thuần thành trong GH
(dù đang công tác cho GH); và người đó chẳng ai thích hợp
hơn là đạo hữu:
Những người
viết sách báo tiếng Việt hiện nay, vỏn vẹn chỉ dăm ba
người rơi rớt lại từ thế hệ Pháp thuộc dùng chữ “sic”
(nguồn gốc từ tiếng Latin, tiếng Anh là ‘so thus’ – có
nghĩa là được trình bày y như vậy, nguyên văn được nói
hay viết như vậy; cũng thường dùng để lặp lại hoặc nhấn
mạnh chữ dùng sai hoặc ý sai của nguyên văn mà mình trích
dẫn), trong số đó có đạo hữu, không thể nào một người
thuộc thế hệ trẻ ngày nay, trưởng thành từ trường lớp
Phật học do GHPGVN trong nước đào tạo như T.T. Chơn Tâm lại
dùng đến;
Tâm thư ký
ngày 22/01/06, được viết từ máy của Chùa Giác Hoa, là trung
tâm liên lạc giữa T.T. Tổng Thư Ký đương nhiệm với Phòng
Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, chứ không phải từ tỉnh An
Giang xa xôi, nơi mà T.T. Chơn Tâm đang gặp khó khăn với chính
quyền địa phương (vào ngày 26/01/06 – theo TCBC cùng ngày);
Một số
từ ngữ trong nước được dùng ở phần nhập đề và kết
luận không phải do đạo hữu, nhưng hầu hết toàn văn bản
đều do đạo hữu cung cấp, vì những đoạn phân tích lý
luận (dù trong tâm trạng mất bình tĩnh) đã lộ mặt một
con người ranh ma, xảo trá, tiểu nhân, với những ngôn từ
thấp kém không thể phát xuất từ một Tăng sĩ;
T.T. Chơn
Tâm không thể hiểu được tình hình hải ngoại để đề
nghị T.T. Bổn Đạt “điều nghiên” về những người tù
cải tạo đang tị nạn ở nước ngoài chịu ân đạo hữu
(mà thực tế cũng chẳng có mấy tù nhân cải tạo nào bên
này biết đạo hữu là ai cho đến khi đạo hữu được sáng
giá hơn nhờ tham gia GH);
T.T. Chơn
Tâm không thể nói rằng T.T. Bổn Đạt “tuổi đời chưa
đủ” vì T.T. Bổn Đạt thuộc thế hệ đàn anh của T.T.
Chơn Tâm;
Một lá thư
gọi là Tâm Thư mà viết rất cẩu thả, viết cho nhanh như
để chữa cháy, lắp ráp vội vàng, quên chấm câu (ở cuối
nhiều đoạn, và ngay cả cuối thư), sai chính tả, không đủ
thời giờ đọc lại... chứng tỏ một tâm lý hốt hoảng,
lụp chụp của kẻ trộm bị rượt đuổi. Tâm trạng ấy
phải là của đạo hữu và vài thành viên đồng lõa, không
thể là của T.T. Chơn Tâm, thành viên mới mẻ nhất của Ban
Chỉ Đạo VHĐ;
Ý chính của
Tâm Thư hoàn toàn để chạy tội, đẩy tội cho kẻ khác mà
thủ thân, đồng thời tâng bốc ca tụng quá đáng về cá
nhân một cư sĩ trong khi thẳng tay triệt hạ uy tín và giới
hạnh của các tỳ kheo khác; không thực lòng xây dựng và
có thiện ý lắng nghe, cải thiện. Đây không thể là phong
cách của một tăng sĩ gánh trọng trách của GH như T.T. Chơn
Tâm, Tổng vụ trưởng Tổng Vụ Giáo Dục, kiêm Chánh Đại
Diện GHPGVNTN tỉnh An Giang, kiêm Phó Đại Diện Miền Khánh
Anh.
Qua những
nhận xét trên, chúng tôi viết thư này là thưa chuyện với
đạo hữu chứ không phải thưa chuyện với T.T. Chơn Tâm.
Nhưng nếu T.T. Chơn Tâm có ý bênh vực đạo hữu, một mực
tự nhận mình là tác giả Tâm Thư, chúng tôi xin nêu hai điểm
để T.T. chọn lựa:
Nếu T.T.
là tác giả:
Cố ý trích
dẫn sai nguyên văn Thỉnh Nguyện Thư của GH Canada một cách
đầy ác ý trong Tâm Thư này (sẽ nói sau), là một hình thức
của vọng ngữ (giới thứ tư trong năm giới - chứ không phải
giới thứ ba như đạo hữu Giám đốc PTTPGQT lớn tiếng chỉ
trích một vị Đại lão Hòa thượng thuộc GHPGVN trước đây
qua một TCBC), theo giới luật tỳ-kheo, phạm giới thứ nhất
trong 90 giới đọa (Pacittiya – ba-dật-đề);
Không hiểu
chữ “sic” mà cứ dùng bậy là phong cách sính chữ Tây để
tỏ ra mình trí thức, để lộ chân tướng “dốt mà hay chơi
chữ”, rồi lại dùng những lời lẽ thiếu văn hóa - điều
tối kỵ trong vai trò giáo dục: không xứng hợp chức vụ
Tổng vụ Giáo Dục của T.T.; còn nếu hiểu chữ ấy mà vẫn
cố ý dùng: phạm giới thứ nhất và có thể cả giới thứ
ba trong 90 giới đọa (như đã nói ở trên);
Là tỳ kheo
trẻ, a tòng cư sĩ bên ngoài, chưa tìm hiểu được thực hư
vấn đề, dùng những lời ác để kết tội, vu khống các
tỳ kheo trưởng lão khác (ít nhất là 8 vị giáo phẩm cao
cấp thuộc Lưỡng Viện), trịch thượng “định hướng”
cho tập thể tỳ kheo sư trưởng khác (toàn thể thành viên
GHTN tại Canada).
Nếu TT chỉ
đồng ý ký tên giùm cho “giải độc thư” của vị cư sĩ
kia:
Tiếp sức
cho người ngoài trong việc khuynh loát, “định hướng” đường
đi của GH;
Không tự
trọng để bảo vệ phẩm giá và thể diện tỳ kheo cũng như
cương vị thành viên cao cấp của GH, lót đường cho sự man
trá, lạm dụng của kẻ xấu đang lũng đoạn GH. (Tâm thư
của mình mà để cho người khác mớm ý, đưa lời, suy ra
đường hướng của GH mai sau sẽ dẫn về đâu?)
Chọn lựa
thứ hai, do vì không biết và vì nhẹ dạ tin người, có thể
tha thứ được; còn chọn lựa thứ nhất, chỉ là tự mình
dẫn vào sự suy thoái của giới đức, phẩm hạnh.
Xin trở
lại với đạo hữu cư sĩ, tác giả chính của Tâm Thư.
Thưa đạo
hữu,
Thỉnh Nguyện
Thư của GHTN tại Canada đệ trình H.T. Viện trưởng để xin
một lời giải thích và khích lệ của lãnh đạo cao cấp
của GH trước tâm trạng hoang mang, bức xúc của toàn thể
thành viên (không chỉ riêng ở Canada, mà sắp tới đây là
của đa số thành viên GHTN tại Hoa Kỳ và các Châu nữa).
Đó là lời tâm huyết dâng lên không phải chỉ qua hệ thống
hàng dọc của tổ chức GH, mà còn là niềm kính tín
thân tình của những kẻ hậu học dành cho vị ân sư của
mình; không phải là chỗ để người cư sĩ như đạo hữu
xen vào (mà nếu xen vào trong tư cách “phát ngôn nhân” thì
cũng phải chính danh, qua một văn kiện hành chánh, chứ không
thể mượn tên người này người nọ một cách thiếu quang
minh được!). Nhưng có lẽ vì thư thỉnh nguyện ấy có đề
cập đến đạo hữu, và vì sợ lộ mặt rõ ràng hơn với
GH trong nước, đạo hữu đã vội vàng tìm cách chữa chạy,
la toáng lên, tìm người nhẹ dạ cả tin để mượn tên giải
cứu. Thế nên, đọc Tâm Thư của T.T. Chơn Tâm, chúng tôi
chỉ thấy lộ dạng bộ mặt và dáng điệu thật là thảm
thương của đạo hữu, muốn mở đường cho đạo hữu quay
về sám hối với GH, mà đạo hữu lại ngoan cường, bất
trị, tiếp tục vừa đốt nhà vừa la cứu qua những thông
cáo báo chí khác, chung qui cũng là để biện minh cho mình và
phe nhóm, triệt hạ và vu khống cho những người khác quan
điểm. Thái độ và hành vi thiếu quân tử này đạo hữu
đã từng áp dụng trước đây mỗi khi gặp khó khăn hoặc
phản ứng bất lợi từ trong nội bộ. Nghĩ đến đạo hữu,
không những riêng chúng tôi mà còn nhiều thành viên khác của
GHTN hải ngoại, đều chán ngán, mất hết niềm tin, không
muốn nói gì nữa. Nhưng không nói cũng không được, vì đạo
hữu tiếp tục cuồng ngông, ngậm máu phun cho người vô tội,
không lẽ lặng im không rửa, lại mang tiếng thiếu đạo nghĩa
(kiến nghĩa bất vi vô dũng giả - thấy việc nghĩa mà không
làm là người không có dũng khí).
Tâm Thư mà
đạo hữu mượn tên của T.T. Chơn Tâm ký (có sự góp ý của
một vị TT khác trong nước nữa, không cần thiết phải nêu
ở đây – 3 người viết chung một lá thư, có thể gọi là
3 đầu 6 tay), nêu ra 6 việc để phân tích Thỉnh Nguyện Thư
của GHTN tại Canada. Chúng tôi cũng xin tuần tự điểm qua
6 việc này qua những đoạn trích nguyên văn được bôi đậm
để dễ phân biệt (chứ không cắt xén với ác ý như đạo
hữu làm).
1. Thư thỉnh
Nguyện nhận định về việc tuyên đọc Giáo Chỉ 02/GC/VTT
là “không phải là thời điểm và hoàn cảnh thích hợp để
tuyên cáo cùng báo chí truyền thông và đại chúng”, trong
khi đó, việc tuyên đọc Giáo Chỉ 02/GC/VTT trong ngày “Lễ
kỷ niệm 30 năm GHPGVNTN vận động cho tự do tôn giáo, nhân
quyền và dân chủ” là do ban Tổ chức khâm thừa giáo lệnh
Đức Tăng Thống để đưa vào chương trình buổi lễ. Giáo
chỉ lại do Hòa thượng Thích Hộ Giác, Phó Viện trưởng
Viện Hóa Đạo kiêm Chủ tịch Hội đồng Giáo hội tại Hoa
Kỳ - Văn phòng II Viện Hóa Đạo, tuyên đọc. Do vậy, việc
nhận định như trên có là mạo phạm, bất kính với hàng
lãnh đạo Giáo Hội trong và ngoài nước hay không?
Đoạn này
vốn chẳng có lý luận gì cả. Người ngoài cuộc đọc thoáng
qua thì nghĩ là có lý, nhưng người trong cuộc thì nghe thật
buồn cười. Trình độ lý luận của đạo hữu không lẽ
đã đến thời kỳ lụn tàn, suy kiệt tận cùng rồi hay sao?
Hay là đạo hữu giả vờ tin tưởng tuyệt đối vào “bề
trên” như cách của những tín đồ ngoan đạo Thiên Chúa
đối với giáo hoàng của họ? Hỏi tại sao những vị kia
không đáng tin tưởng lại được phong thánh thì trả lời
là vì giáo hoàng đã phong thánh cho họ! Hãy đặt vấn đề
giáo chỉ và giáo lệnh này trong trường hợp có một thiểu
số lạm quyền, thao túng, khuynh loát, đưa dẫn những tin tức
sai lạc để thúc đẩy một cuộc thay đổi nhân sự to lớn
theo ý của họ. Trong trường hợp như thế, một buổi lễ
chỉ là sân khấu để nghệ sĩ trình diễn những vai tuồng
do đạo diễn soạn tuồng và rạp hát sắp đặt ngày giờ.
Đúng vào giờ giấc và vỡ tuồng qui định, nghệ sĩ lúc
đó có muốn nghỉ hát cũng không thể nghỉ được. Vậy,
câu hỏi cốt lõi mà GHTN Canada nêu ra, đạo hữu lờ đi, không
dám trả lời, chỉ mượn lá chắn “lãnh đạo tối cao”
để khỏa lấp thôi. Vấn đề nêu ra là:
tại sao phải
gấp gáp tuyên đọc giáo chỉ thay đổi quá bán thành viên
Ban Chỉ Đạo VHĐ trong nước qua một buổi lễ vốn không
liên hệ đến một Đại Hội Khoáng Đại để thay đổi nhiệm
kỳ, thay đổi nhân sự?
tại sao sự
thay đổi nhân sự to lớn như thế đã không giữ kín nội
bộ lại công nhiên đưa ra trước truyền thông báo chí và
đại chúng?
Đạo hữu
giả lờ không đáp thì chúng tôi nói: chẳng qua là vì đạo
hữu và phe nhóm thiểu số kia rất đắc ý trong sự thành
công “thay đổi nhân sự” qua đó loại trừ được những
vị giáo phẩm có uy tín và tài năng nhưng luôn cản trở con
đường tiến thân và hành vi khuynh loát lạm quyền của nhóm
mình; hơn nữa, đã gần hết năm 2005 rồi, không còn cơ hội
nào tổ chức một buổi lễ long trọng để tuyên dương thắng
lợi của mình, bèn nghĩ ra “Lễ Kỷ Niệm 30 Năm”! Nếu
kỷ niệm 30 năm, sao không kỷ niệm vào cuối tháng 4/2005 cho
vừa tròn năm tháng? Sợ rằng để lâu sẽ có phản ứng bất
lợi (có thể từ chính Viện Tăng Thống), nên vội vã xin
giáo lệnh để đọc (mà giáo lệnh này ở đâu, bằng điện
thoại? bằng khẩu lệnh? từ Nguyên Thiều hay từ Giác Hoa?).
Ban tổ chức là những ai? – Cũng là người cùng phe nhóm
của đạo hữu. Tại sao phải công khai tuyên bố với báo
chí truyền thông và đại chúng? Không lẽ muốn khoe chuyện
lủng củng nội bộ của GH? Hay là muốn vinh danh sự thành
công của phe nhóm mình trong việc “bình định” nhân sự
trước quảng đại quần chúng? – Xin trả lời thêm: vì muốn
đặt giáo chỉ vào tình trạng đã rồi, không thể thay đổi
được nữa (đã công bố với bàng dân thiên hạ rồi không
lẽ đem về sửa lại dù có phản ứng mạnh từ nội bộ)!
Giáo chỉ,
giáo lệnh, người tuân giáo lệnh, người đọc giáo chỉ,
trong trường hợp này, trở thành thứ yếu. Những người
mớm ý, đưa ra kế hoạch thay đổi nhân sự, soạn thảo giáo
chỉ, thỉnh cầu giáo lệnh, mới là đạo diễn của mọi
vỡ tuồng. Mà đạo diễn này lại là những người thao túng,
lạm quyền, thì còn chi phải nói nữa! Chỉ ép người khác
khâm tuân thôi; nếu có phản ứng thì cứ mượn oai hùm để
kết tội là “mạo phạm, bất kính” hay “phạm thượng.”
Không giải
thích, trả lời, đạo hữu chỉ lấy “giáo lệnh” của
Đức Tăng Thống (không có chứng từ) và sự tuyên đọc do
một vị lãnh đạo GH tại hải ngoại làm bằng chứng cho
sự hợp lý của sự kiện. Nếu thực sự có một giáo lệnh
từ Đức Tăng Thống, dĩ nhiên là “H.T. Thích Hộ Giác, Phó
Viện trưởng VHĐ kiêm Chủ tịch Hội Đồng Giáo Hội tại
Hoa Kỳ” (nguyên văn Tâm Thư của TT Chơn Tâm viết như thế!
- Đúng ra là ‘Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHN tại Hoa Kỳ’)
sẽ có lý do “khâm tuân” mà tuyên đọc, nhưng tại sao phải
gấp rút tuyên đọc vào buổi lễ kỷ niệm 30 năm đấu tranh
của GH thay vì chờ đến một Đại Hội Khoáng Đại? Chẳng
lẽ vì 30 năm đấu tranh của GH trùng hợp với 30 năm thắng
lợi “giải phóng miền Nam” của nhà nước cộng sản, thích
hợp để tuyên dương công trạng với cách mạng là loại
trừ được đối tượng đáng ngờm của GH sau lưng nhị vị
đại lão hòa thượng? Nếu không trùng hợp thì sao không tổ
chức kỷ niệm 40 năm đấu tranh cho bình đẳng tôn giáo và
tự do nhân quyền mà chỉ kỷ niệm có 30 năm? Không lẽ GH
chỉ có mặt và đấu tranh cho đất nước có 30 năm thôi sao?
Vậy những năm trước năm 1975 thì GH ở đâu, và đạo hữu
cư sĩ này ở đâu?
Thực ra,
sự đổi thay quá bán thành phần nhân sự Ban Chỉ Đạo VHĐ
là dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng nội bộ, không
hãnh diện gì để tuyên cáo cùng đại chúng, vì sự kiện
này có thể đưa đến những nhận định bi quan tiêu cực
trong nội bộ Phật giáo và tạo cơ hội cho sự phá hoại
gièm pha từ các thế lực ngoại nhân. Trong nước không hiểu
tình hình hải ngoại, có thể chấp thuận yêu cầu của Ban
Tổ Chức và “phát ngôn nhân” chuyên báo cáo láo để công
bố Giáo Chỉ; nhưng Văn Phòng II VHĐ tại Hoa Kỳ thì phải
nắm vững tình hình sinh hoạt ở hải ngoại, phải dự kiến
được những dư luận và phản ứng bất lợi cho GH có thể
xảy ra để, với cương vị lãnh đạo tại hải ngoại, hội
ý thành viên các nước và các châu, cũng như các hội đồng
thuộc GH Hoa Kỳ: quyết định thi hành giáo chỉ mà không nhất
thiết phải công bố. Một sự kiện mà người hiểu việc
tất phải dự tri tầm ảnh hưởng xấu cho GH như thế, lại
được chính các vị lãnh đạo GH tại hải ngoại răm rắp
‘tuân mệnh’ mà công bố cho quảng đại quần chúng như
là một ‘thắng lợi’ của sự thanh lọc, dĩ nhiên sẽ dẫn
đến thái độ và phản ứng “Sững sờ, Kinh ngạc và Thất
vọng” (sững sờ - không phải ‘sửng sờ’ như Tâm Thư
của đạo hữu vì dốt chính tả mà viết sai, hoặc vì vội
vàng, hấp tấp chạy tội mà sai!). Phản ứng ấy không phải
chỉ từ toàn thể thành viên GHTN tại Canada mà chính là phản
ứng chung của đa số Tăng Ni và Phật tử khác, dẫn đến
thư thỉnh cầu triệu tập Đại Hội Bất Thường của hơn
20 thành viên cao cấp của GHTN tại Hoa Kỳ, cũng như sự lên
tiếng của nhiều Tăng Ni trẻ khác tại các nước, các châu
qua thư trả lời T.T .Thích Viên Định, vân vân.
Đây cũng
là kinh nghiệm sai lầm mà lãnh đạo GHTN tại hải ngoại không
thể không quan tâm. Không sáng suốt chận đứng những âm
mưu khuynh loát của kẻ xấu thì GH tiếp tục tiến nhanh trên
đà rơi xuống vực thẳm. Từ sự kiện hôm nay, có thể nhìn
lại hai nhiệm kỳ trước, đối với Giáo chỉ “lưu nhiệm”
toàn bộ nhân sự của GHPGVNTNHN-HK, với vài bổ sung mà đa
số thành viên không mong đợi. Tại sao lại có “giáo chỉ
lưu nhiệm” từ Hội Đồng Lưỡng Viện trong nước gửi
ra? Cả một GH to lớn của Hoa Kỳ nói riêng, hải ngoại nói
chung, không lẽ trải qua hơn 12 năm vẫn chưa đủ trưởng
thành, uy tín, sự tự tin, tự lập, tự trị, để giải quyết
vấn đề nội bộ, đến nỗi mỗi khi cảm thấy chiếc ghế
của mình bị lung lay thì liền tâu hót, báo cáo láo về trong
nước để cầu viện giáo chỉ lưu nhiệm “nhằm bảo vệ
GH”? Nhị vị lãnh đạo Lưỡng Viện bị quản thúc, thiếu
thông tin, chỉ đón nhận tin tức từ một vài thành viên có
trách nhiệm và siêng năng liên lạc. Vậy ai là những người
báo cáo láo, đề nghị, gợi ý, để Hội Đồng Lưỡng Viện
ra giáo chỉ lưu nhiệm đến hai lần, rồi suy cử HT Thích
Chánh Lạc lên ngôi vị Phó Viện trưởng VHĐ, rồi giáo chỉ
“chấn chỉnh, bổ sung” gần nhất với sự thay đổi quá
bán thành viên Ban Chỉ Đạo VHĐ? Không lẽ lãnh đạo GHTN
hải ngoại tiếp tục làm hài nhi suốt đời, thụ động chờ
đợi những giáo chỉ từ trong nước để giải quyết những
khó khăn khúc mắc nội bộ? Nhị vị Hòa thượng trong nước
sẽ còn chờ đợi sự trưởng thành của hài nhi này cho đến
bao giờ? Vậy chứ sinh hoạt dân chủ và thường được rêu
rao là vững mạnh của GH hải ngoại ở đâu mà không thể
tự quyết, lúc nào cũng phải lấy quyết định từ trong nước?
Thế thì VPII VHĐ lập ra làm gì, không lẽ chỉ là để chờ
đợi giáo chỉ? Đã 13 năm rồi mà cái gì cũng cầu viện
sự che chở bảo bọc của Hội Đồng Lưỡng Viện thì thử
hỏi, một khi nhị vị trưởng lão ra đi, GH trong nước và
hải ngoại sẽ về đâu, chẳng lẽ đi theo nhị vị? Lãnh
đạo GH hải ngoại phải gánh chịu một phần lớn trách nhiệm
trước lịch sử về sự suy vong của GHPGVNTN nếu không dũng
cảm và sáng suốt nhìn nhận sự thực này. Sự thực rằng
có một sự thao túng không thể tha thứ được của một vài
cá nhân trong GH tại hải ngoại. Nếu không biết, là thiếu
sáng suốt; nếu biết mà không dám nói, hoặc nói mà không
tích cực hành động để giải quyết tệ trạng thì thiếu
dũng lực. Lãnh đạo như thế, GH làm sao mà sống còn!
Có thể nói
thẳng ra nơi đây rằng, chẳng qua vì đạo hữu đã nhận
tiền từ H.T. C.L. và T.T. V.L. quá nhiều rồi, nên khi họ cầu
cứu, đạo hữu không thể không tìm cách báo cáo, đề nghị,
đề bạt, nhằm bảo vệ và cất nhắc họ. Bảo vệ cho họ
được ngồi lại vị trí cũ bằng giáo chỉ lưu nhiệm, vì
nếu không có giáo chỉ ấy, họ sẽ bị đa số thành viên
khác loại trừ bằng lá phiếu. Cất nhắc họ lên những chức
vị thuộc VHĐ trong nước, ở ngoài tầm ảnh hưởng của
lá phiếu thành viên các Hội đồng tại Hoa Kỳ, để họ
an hưởng suốt đời, tránh khỏi nỗi lo bị bất tín nhiệm
trong kỳ bầu cử sắp tới của Đại Hội Khoáng Đại IV.
Và cũng có thể nói thẳng ra nơi đây rằng, nhị vị Hòa
thượng trong nước không thể nắm vững được tình hình
hải ngoại, ngoại trừ tin tức từ cái loa một chiều của
đạo hữu thông qua điện thoại và các thông cáo báo chí;
thế nên, hai lần giáo chỉ lưu nhiệm giữ lại nguyên vị
các thành viên GH tại HK, suy cử H.T. C.L. (một thành viên mang
tai tiếng nhơ nhớp, mất phẩm hạnh nhất của Tăng đoàn
Việt Nam hải ngoại) lên ngôi vị Phó Viện trưởng VHĐ, và
giáo chỉ bổ sung mới đây, đều là kết quả của một chuỗi
báo cáo sai lạc, thông tin đầy tư kiến, vị kỷ, nặng phe
phái. Kết quả như thế, là những việc bất thường, khó
tin, khiến cho toàn thể thành viên GHTN tại Canada phải “sững
sờ, kinh ngạc và thất vọng” là điều hiển nhiên, sao đạo
hữu lại giả vờ ngây thơ đặt câu hỏi về phản ứng này!
Rồi đạo hữu mượn tay T.T. Chơn Tâm viết:
2. Về việc”
Sửng sờ, Kinh ngạc và Thất vọng” trước sự thay đổi
thành phần nhân sự hai viện, Viện Tăng Thống và Viện Hoá
Đạo qua Giáo Chỉ 02/GC/ Viện Tăng Thống, qua sự biểu tỏ
[theo nhận định của Thư Thỉnh Nguyện] “về sự thao túng,
lạm quyền của một cư sĩ đối với hầu hết các sự việc
trọng đại sinh tử của Giáo Hội”. Qua sự “Sửng sờ,
kinh ngạc và Thất vọng” trên đây, chỉ thấy Thư Thỉnh
Nguyện nhận định về hiện tượng thay đổi nhân sự mà
không đi thêm bước nữa để tìm hiểu nguyên nhân nào làm
ra sự thay đổi nầy? Thiết nghĩ trong số những nguồn thông
tin có kiểm chứng và đối chiếu như việc từ chức vì lý
do sức khoẻ; như mặc nhiên từ bỏ Giáo Hội bằng cách không
đến dự họp nhiều lần; v.v… thì quan trọng và không thể
thiếu để góp phần làm sáng tỏ vấn đề là cần phải
hội kiến, tiếp cận thông tin với chính người “xin nghỉ
việc” ấy, đây chính là thông tin chân xác nhất để giải
toả những gì thanh viên muốn biết mà chưa suốt biết.
Như đã trình
bày ở trước, “nguyên nhân nào làm ra sự thay đổi này”
đã quá rõ ràng, chứ không phải toàn thể thành viên GHTN
tại Canada chỉ nhìn thấy ở mặt “hiện tượng thay đổi
nhân sự.” Ở trường hợp một người lạm dụng nắm hết
thông tin, làm “phát ngôn nhân” cho VHĐ, đạo hữu muốn
nói sao thì nói, nhưng khi mọi người đã không còn tin nơi
“cái loa” của đạo hữu nữa thì “những nguồn thông
tin có kiểm chứng và đối chiếu” do chính đạo hữu đưa
ra không thể là bằng chứng đáng tin cậy. Nếu nhà nước
cộng sản trưng dẫn những hình ảnh và nguồn thông tin từ
báo chí của họ để chứng minh GHPGVNTN không bị đàn áp,
đạo hữu có tin không? Cũng thế, đạo hữu chứng minh với
những người khác quan điểm bằng thông tin của chính đạo
hữu và phe nhóm thì làm sao đủ tính thuyết phục? Phải đi
sâu hơn từ “nguyên nhân nào làm ra” những “nguồn thông
tin có kiểm chứng và đối chiếu” ấy.
GH Canada
đã đặt vấn đề ấy một cách nghiêm túc: tại sao lại
có sự từ chức của nhiều thành viên Ban Chỉ Đạo VHĐ?
tại sao lại có sự thay thế nhân sự một cách cấp bách?
Không thể
chỉ trả lời đơn giản là vì có đơn xin từ chức nên chấp
thuận từ chức. Trong các tổ chức thế tục, từ tầm vóc
quốc tế hay quốc gia, cho đến các công ty tư nhân lớn hoặc
nhỏ, người từ chức công khai nêu rõ lý do từ chức của
mình, và lý do đó thường là chính xác, rõ ràng. Trong cơ
cấu giáo hội, đặc biệt là giáo hội Phật giáo chúng ta,
có những điểm tế nhị nằm ở ngoài nguyên tắc hành chánh,
thông qua giới đức, phẩm hạnh và tôn ty hạ lạp. Đây cũng
là điểm yếu trong sinh hoạt GH mà đạo hữu vốn chỉ mới
tham gia thời gian gần đây (từ năm 1993) không thể “suốt
biết”. Có nghĩa rằng, khi một vị giáo phẩm của GH nộp
đơn từ chức, vì tôn kính nhị vị lãnh đạo GH, vì không
tiện nói thẳng nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự từ chức
của mình (mà nguyên nhân ấy có khi trực tiếp liên quan đến
sự lãnh đạo của nhị vị hoặc vài tôn đức đồng viện
khác), nên chỉ có thể viện lý do sức khỏe hoặc bận rộn
Phật sự địa phương để nhị vị tôn túc yên lòng.
Không thể
trả lời đơn giản rằng vì “mặc nhiên từ bỏ Giáo Hội
bằng cách không đến dự họp nhiều lần” nên GH cần phải
thay thế người khác. Ở đây, vì câu trả lời chưa thỏa
đáng, kéo theo câu hỏi kế tiếp, đi sâu hơn vào nguyên nhân:
tại sao lại có sự kiện một số thành viên cao cấp của
Ban Chỉ Đạo VHĐ hoặc Viện Tăng Thống không đến dự họp
nhiều lần? Nếu được nhị vị trưởng lão hỏi đến, chư
tôn đức này cũng sẽ viện lý do sức khỏe và bận Phật
sự (như trường hợp đơn xin từ chức) mà thôi. Vậy nguyên
nhân chính yếu là từ đâu?
Thế nên,
cách đạo hữu nói “cần phải hội kiến, tiếp cận thông
tin với chính người ‘xin nghỉ việc’ ấy...” chỉ là
lối ngụy biện hoãn binh, một đề nghị (đúng hơn là thách
thức) không thực lòng. Dĩ nhiên không phải chỉ thành viên
GH Canada mà còn nhiều thành viên khác của Hoa Kỳ và các châu,
đều đã “tiếp cận thông tin” với chư tôn đức “xin
nghỉ việc” rồi, và cũng được trả lời đại để “vì
lý do sức khỏe, vì bận Phật sự...” Họ trả lời như
thế, nhưng thực tế không phải như thế. Đó là điểm tế
nhị trong truyền thống sinh hoạt thiền môn, áp dụng vào
sinh hoạt GH. Người trí, không thể không biết, và không thể
y cứ vào “nguồn thông tin có kiểm chứng và đối chiếu”
để nhận định sự kiện.
Không trả
lời được câu hỏi của GH Canada, đạo hữu chỉ biết dùng
cách phủ nhận, không giấu được sự đố kỵ nhỏ nhen của
một tiểu nhân đối với bậc tài trí lỗi lạc của GH qua
đoạn kế tiếp:
3. Thỉnh
nguyện thư đặt câu hỏi: “tại sao lại có sự từ chức
đồng loạt như thế? và tại sao sự từ chức của những
vị nầy có vẻ như đã được “chấp thuận” một cách
dễ dàng, nhanh chóng, là “để đáp ứng một nhu cầu cấp
thiết khủng hoảng nào của Giáo Hội”? hay những nghi vấn
nêu ra kế tiếp, thì xin thưa rằng: Nói về Nhân sự trung
kiên trong Giáo Hội thì đó là những người, mà trước sau
vẫn giữ lòng son với Giáo Hội, những người mà đã từng
“đồng lao cộng khổ”; “vinh nhục cam chia” với Giáo
Hội qua những thăng trầm lịch sử. Cho nên không thể lấy
thước đo “trí thức” hay “thần tượng tuổi trẻ” hay
với “danh vang trong và ngoài nước” để lấy đó mà vinh
danh vai trò “giữ gìn vận mệnh của Giáo Hội” được.
Chỉ phủ
nhận thôi bằng một lối lý luận cùn (cũng có nghĩa là không
lý luận gì cả), chứ không chứng minh được thế nào là
trung kiên và không trung kiên. Thế đạo hữu có thể nào bảo
đảm được những nhân sự mới do đạo hữu và phe nhóm
đề bạt cất nhắc sẽ “trước sau vẫn giữ lòng son với
Giáo Hội” hay không? Và những người mới chưa từng (xin
nhấn mạnh: chưa từng) “đồng lao cộng khổ, vinh nhục cam
chia với Giáo Hội qua những thăng trầm lịch sử” (chữ
bôi đậm là của Tâm Thư) có thể nào đáng tin cậy hơn những
người “đã từng”? Mới tham gia Giáo Hội khi Giáo Hội
vừa gượng dậy sau cơn bệnh thập tử nhất sinh thì có gì
bảo đảm được là sẽ “trước sau vẫn giữ lòng son với
Giáo Hội”? Nếu một người như T.T. Tuệ Sỹ, được nhị
vị trưởng lão lãnh đạo GH tin cậy giao phó trọng nhiệm
trước đây, được đạo hữu hết lòng ca tụng là “vĩ
đại” và “kim cương bất hoại” (qua cuộc điện đàm
viễn liên giữa đạo hữu và T.T., đăng trên Quê Mẹ, tháng
9 & 10 - 1998, số 147, trang 18), được Tăng Ni và Phật tử
khắp nơi quý kính mà bị xem là người mà GH chọn lầm, thì
liệu GH có chọn lầm thêm lần nữa đối với những vị
mới mẻ “chưa từng” tham gia GH hay không? Đạo hữu “lấy
thước đo” nào để xác định người này trung kiên, người
kia không trung kiên? Lấy thước đo tương lai hay thước đo
quá khứ? Quá khứ của những vị mới tham gia GH thì hoàn
toàn không có; tương lai của họ thì chưa xảy ra, lấy gì
mà đo? Hay là thước đo tư kiến, ai thuận với mình thì trung
kiên, ai nghịch ý mình thì không trung kiên?
Đạo hữu
quên rằng, T.T. Tuệ Sỹ chính vì đã từng “đồng lao cộng
khổ” với GH bằng cả thân mệnh của mình qua sự đấu
tranh cho dân tộc, qua bản án tử hình và những năm tù dài,
chia xẻ với nhị vị hòa thượng lãnh đạo ngay cả khi còn
ở trong tù bằng sự ủng hộ lập trường và nêu cao chính
nghĩa của GH (qua thư gửi Đức Tăng Thống - lúc đó ngài
còn là Xử Lý Thường Vụ VTT), rồi tiếp tục dấn mình làm
việc cho GH ngay khi vừa mới ra tù, mà trở thành “thần tượng
tuổi trẻ” và “danh vang trong và ngoài nước” (nhóm từ
của đạo hữu vì lòng đố kỵ tầm thường đã cố ý dùng
cho nhẹ đi, chứ nguyên văn của Thỉnh Nguyện Thư từ GH Canada
viết như vầy: “[T.T. Tuệ Sỹ]... là bậc hiền trí, từng
sát cánh với nhị vị Hòa Thượng lãnh đạo Lưỡng Viện
để lèo lái con thuyền Giáo Hội, là một trong vài biểu tượng
nổi bật nhất của Phật giáo Việt Nam đương đại, là thần
tượng của thành phần trí thức và tuổi trẻ Việt Nam, Phật
giáo hay không Phật giáo, cả trong nước lẫn hải ngoại.”).
Đạo hữu
cũng đừng quên rằng, không phải chỉ có GH Canada tôn quý
T.T. Tuệ Sỹ mà hầu như mọi người, mọi giới, trong và
ngoài nước, trong đó có chính đạo hữu, qua Lời Tòa Soạn
của báo Quê Mẹ, (tháng 9 & 10 – 1998, số 147, trang 16)
đã tôn vinh T.T. Tuệ Sỹ như là một biểu tượng tuyệt vời
cao cả của dân tộc và đạo pháp khi T.T. mới vừa ra tù.
Đây, hãy đọc lại lời của Tòa Soạn Quê Mẹ, xin bôi đậm,
qua bài viết lấy chính lời phát biểu của T.T. Tuệ Sỹ làm
tựa đề (Tôi đã tuyệt thực 10 ngày để tự khẳng định
mình: không ai có quyền xét xử tôi, thì không ai có quyền
ân xá): “Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, triết gia, học giả,
giáo sư đại học, một luận sư Trung quán... Tác giả của
nhiều bộ sách ấn hành trước năm 75 tại Sàigòn gây chấn
kích trong lòng người đọc, như “Trung Quán Luận”, “Tô
Đông Pha, một phương trời viễn mộng”, ... Những tù nhân
chính trị từng sống chung với Thượng Tọa qua các trại
giam đều đồng thanh tôn vinh con người đạo hạnh, gương
mẫu, khí phách, đóng vai đại sư an ủy và nâng đỡ tinh
thần họ... Nhân cách Đạo sư ấy, tinh thần vô úy ấy, uy
dũng nói lên sự thật ấy, bất chấp hiểm nguy cho thân mạng,
thể hiện trước phiên tòa năm 1988, và nay sau 14 năm khổ
sai, ngay ngày đầu vừa bước ra khỏi ngục tù, lại một
lần nữa thể hiện qua cuộc điện đàm đầu tiên phát biểu
ra nước ngoài hôm 4.9.98, mà chúng tôi xin đăng tải sau đây
làm quà Bạn đọc... Không phải một món quà thông tin, như
hàng chục nghìn bản tin chộn rộn mỗi ngày trên màn ảnh
vi tính của internet, của E.mail đâu. Đây là Tiếng Nói siêu
việt mọi nguồn thời sự thế gian, mọi tranh chấp chính
kiến, mọi rấp ranh âm mưu. Tiếng Nói ấy hòa nhập với
Tiếng Nói muôn thuở của Quê hương ta và Nòi giống Con người,
mỗi khi đối diện với Dối trá, Tàn bạo, Phi nhân, Vô minh.
Tiếng Nói của sự Chân Thật. Tiếng Nói Người dõng dạc,
thanh cao trước muôn tiếng thú hú gào tru tréo.”
Ca tụng T.T.
Tuệ Sỹ hết mức như vậy, nhưng chỉ mới 7 năm sau, đã
dùng những lời lẽ hạ lưu, vu khống, châm biếm, gièm pha,
nào là “Tế Bào bệnh hoạn”, “tiếm vị”, “chưa tiện
chào hàng”... vân vân. Vậy thì những “phát ngôn” của
đạo hữu có còn khả tín hay không? Nếu nhất nhất tin theo
đạo hữu tất phải nghi ngờ và đề phòng tất cả những
ai mà đạo hữu đã từng hoặc đang ca tụng; ngược lại,
cần phải thẩm xét về thực chất của đạo hữu cùng những
phát ngôn mà đạo hữu sử dụng, trong bất kỳ phương tiện
truyền thông nào.
Chưa hết,
đến đoạn dài kế tiếp, chúng tôi đọc mà cảm nghe như
là chính đạo hữu nói về âm mưu của đạo hữu và phe nhóm
của đạo hữu vậy. Đoạn này, có thể nói là “suy bụng
ta ra bụng người”:
Còn như Thỉnh
nguyện thư nói rằng: “nếu vì xin từ chức mà bị loại
khỏi danh sách Ban chỉ đạo”. Điều nầy sao không nhìn nhiều
mặt khác nữa để trang bị cho mình cái nhìn trọn vẹn về
Chân Dung Toàn Cảnh của pháp nạn Giáo Hội bị vào tròng
ngày nay? Sao không thấy rằng, trước vận hạn nguy biến của
Giáo Hội, kẻ thất phu còn có trách nhiệm (thất phu hữu
trách); người Phật tử có tấm lòng với Giáo Hội còn phải
“gác việc nhà mà lo việc nước”. Huống chi, cái gọi là
“sự từ chức đồng loạt”, cùng lúc, cùng thời điểm
như thế chỉ nhằm tạo ra trong lòng tín đồ nghi vấn bất
chính, là “nhóm người ra đi” đang tạo áp lực nặng nề
lên đường hướng lãnh đạo của nhị vị Hoà Thượng, những
người lãnh đạo tối cao của Hai Viện. Cần nhớ thêm rằng,
mấy mươi năm trước đây, khi đạo pháp và dân tộc lâm
nguy chẳng thấy ai khác ngoài nhị vị Hòa thượng bất khuất
đứng lên bảo vệ Giáo hội, ngoại trừ chư vị bị thảm
sát như Cố Hòa thượng Thích Thiện Minh. Nay, nhờ nhị vị
Hòa thượng kiên cường tranh đấu mà con thuyền Giáo hội
bắt đầu thuận buồm xuôi gió, thì những “bất đồng này
khác” lăm le xuất hiện để làm gì ? Để cứu Giáo hội
hay làm lợi cho “ai” khác ? Tại sao không thấy “bất đồng”
với chủ trương tiêu diệt Phật giáo của Cộng sản mấy
mươi năm trước đây ? Còn cái việc biểu hiện “đồng
loạt từ chức” trong cùng một thời điểm như thế thì
ở đây vấn đề cần đặt ra là giữa các thành viên nầy
có hội ý trước với nhau không và giữa họ có “tâm đầu-ý
hợp” nào chăng? Hỏi tức là đã tự trả lời rồi. Mục
tiêu của họ chỉ nhắm chuyện cá nhân, danh lợi riêng tư
nếu không nói là cố ý làm cho Giáo hội dân lập chệch hướng
lịch sử. Vì vậy mới mong áp lực lên Nhị vị Tôn Đức
Hoà Thượng, những người đang cầm tay lái con thuyền Hai
Viện; những người đang định hướng sống còn cho vận mệnh
Giáo Hội. Suy cho cùng thì khối áp lực nầy muốn tiếm vị
gì đây? Cái đáng nói và cần làm rõ là đằng sau hậu trường
của vụ việc “Đồng Loạt Từ Chức” nầy là do ai chủ
đạo, quân sư của vấn đề nầy là ai? Và sự biểu tỏ
áp lực nầy là nhằm thực hiện cho “Giấc Mơ Lãnh Tụ”
nào đây? và thực hiện cho ai đây?
Hãy đi vào
chi tiết những điểm cần nói:
Sao không
thấy rằng, trước vận hạn nguy biến của Giáo Hội, kẻ
thất phu còn có trách nhiệm (thất phu hữu trách): những kẻ
‘thất phu’ như đạo hữu, như H.T. Chánh Lạc., T.T. Viên
Định., T.T. Viên Lý, T.T. Chơn Tâm, vân vân, đã và đang làm
gì cho Giáo Hội từ năm 1975 đến nay? Quý vị chính thức
tham gia Giáo Hội từ năm nào? Có phải là từ thời điểm
năm 1992 khi GHPGVNTN Hải Ngoại tại HK cùng các nước, các
châu thành lập, từ Đại Hội Bất Thường tại tu viện Nguyên
Thiều năm 2003, và từ cuộc họp tại Chùa Giác Hoa nhân giỗ
Tổ Nguyên Thiều vào cuối năm 2005 hay không? Thế những năm
trước đó, quý vị ở đâu, làm việc cho ai mà để cho nhị
vị hòa thượng đơn thân đấu tranh cho sự sống còn của
GH? Phải chăng làm việc cho các tổ chức chính trị thế tục
ngoài GH, đi du học để tránh tiếng mất phẩm hạnh trong
nước, đi vượt biên, tu học và du học theo chương trình
giáo dục của GHPGVN... là cách biểu tỏ trách nhiệm tích
cực đối với Giáo Hội lúc lâm nguy? Quý vị có đủ tư
cách để đặt câu hỏi này với chư tôn đức vừa từ chức
và bị loại ra khỏi danh sách Hội Đồng Lưỡng Viện hay
không?
Vừa nói
ở trước là “vận hạn nguy biến của Giáo Hội” thì tiếp
đó lại nói “con thuyền Giáo Hội bắt đầu thuận buồm
xuôi gió thì những ‘bất đồng này khác’ lăm le xuất hiện
để làm gì?”: Qua câu hỏi này của đạo hữu, tự khắc
phải hiểu rằng những người đồng loạt từ chức cố gắng
cảnh báo về nguy cơ thao túng của một thiểu số hủ hóa
trong GH. Nếu có âm mưu “tiếm vị” như đạo hữu vu khống
thì những kẻ tham quyền cố vị sẽ cố bám lấy chức vụ
của mình để tiếp tục áp lực GH chứ sao lại từ chức
để rồi không có cơ hội củng cố quyền lực? Họ tham gia
GH khi GH trong “vận hạn nguy biến” và sẵn sàng từ bỏ
chức vụ của mình khi “con thuyền Giáo Hội bắt đầu thuận
buồm xuôi gió” là để bảo vệ GH, trong khi những kẻ khác,
chỉ làm “thất phu hữu trách” khi GH bắt đầu trong tình
thế thuận lợi hơn trước mà thôi. Vậy có thể đặt câu
hỏi ngược lại với đạo hữu và phe nhóm của đạo hữu
rằng: “những bất đồng này khác lăm le xuất hiện để
làm gì?” và “hỏi tức là đã tự trả lời rồi.”
Đạo hữu
và thiểu số phe nhóm của đạo hữu đã tự trả lời rồi
thì hệ luận nối theo, bằng chính những lời của đạo hữu
(qua Tâm Thư của T.T. Chơn Tâm) sẽ là những gì chính xác
nhất để mô tả âm mưu và ý đồ của đạo hữu, chứ đừng
có mong vấy tội cho kẻ khác. Hãy thay chữ “họ” bằng
“đạo hữu và phe nhóm” sẽ thấy rõ hiện tình của GH,
qua cái nhìn của đa số Tăng Ni, quần chúng Phật tử khắp
nơi như sau: “Mục tiêu của họ chỉ nhắm chuyện cá nhân,
quyền lợi riêng tư, nếu không nói là cố ý làm cho Giáo
hội dân lập chệch hướng lịch sử. Vì vậy mới mong áp
lực lên Nhị vị Tôn Đức Hoà Thượng, những người đang
cầm tay lái con thuyền Hai Viện; những người đang định
hướng sống còn cho vận mệnh Giáo Hội. Suy cho cùng thì khối
áp lực nầy muốn tiếm vị gì đây? Cái đáng nói và cần
làm rõ là đằng sau hậu trường của vụ việc “Đồng Loạt
Từ Chức” nầy là do ai chủ đạo, quân sư của vấn đề
nầy là ai? Và sự biểu tỏ áp lực nầy là nhằm thực hiện
cho “Giấc Mơ Lãnh Tụ” nào đây? và thực hiện cho ai đây?”
Sự “đồng
loạt từ chức” của chư tôn đức thành viên HĐLV không
do ai chủ đạo, quân sư, mà do chính sự khuynh loát lạm
quyền của một thiểu số khác, đẩy GH vào “vận hạn nguy
biến”, khiến không thể làm gì khác hơn ngoài sự từ chức
để cảnh giác, đạo đạt nguyện vọng của mình bằng sự
cởi bỏ chức tước, địa vị. Lịch sử xưa nay cho thấy
những bậc trung thần danh sĩ có thể từ chức, cáo quan về
vườn khi không thay đổi được thời thế và không can ngăn
được lũ nịnh thần đang tác oai tác quái trong triều đình;
chứ chưa hề thấy những người tham quyền cố vị, vì danh
vì lợi, lại đi từ chức! Chính ở điểm này mà GH Canada
thỉnh nguyện H.T. Viện trưởng, lãnh đạo GH, “cần nghiệm
xét nguyên do (của sự từ chức và không hội họp) hơn là
ruồng bỏ họ.”
Những đoạn
kế tiếp của việc thứ 3, đạo hữu chỉ bổ túc cho luận
điệu vấy tội cho kẻ khác hòng che đậy dã tâm của mình.
Ý tưởng và văn từ ở trình độ hạ đẳng, giống như lối
viết trong những bài chưởi rủa cá nhân trên những báo lá
cải chất đống ngoài chợ, hoặc những lá thư nặc danh xuất
phát từ trung tâm Colorado chuyên môn bêu xấu đời tư của
thiên hạ trong khi chính tác giả đương sự là một con bệnh
ghê tởm, đặt vào đời cũng không có chỗ, để trong đạo
cũng chẳng ra làm sao. Đọc đến là thấy vừa khinh tởm,
vừa thương hại cho người mang danh trí thức, văn hóa, có
giáo dục; không có gì đáng để bàn rộng.
Xin đi vào
việc thứ 4, mà đạo hữu cho rằng “qua Tâm Thư của T.T.
Thích Bổn Đạt... biểu tỏ sự bất phục về quyền hạn
của Đạo Hữu... có trụ sở tại Paris.” Xin thưa, mục tiêu
của Thỉnh Nguyện Thư GHTN Canada là đạo đạt sự ưu tư
của thành viên GH Canada đến H.T. Viện trưởng, nhân đó nêu
ra những dấu hiệu và phần tử tiêu cực phá hoại GH, chứ
không chủ yếu là bàn đến đạo hữu. Mục tiêu không phải
là để biểu tỏ sự bất phục về quyền hạn của đạo
hữu vì đạo hữu đâu phải là đối tượng để thành viên
GH Canada nói đến mà bảo là “biểu tỏ sự bất phục”.
Vả chăng, đạo hữu viết câu này có vẻ như là lâu nay đạo
hữu mong đợi mọi người, mọi thành viên trong GH phải “phục”
về quyền hạn của đạo hữu, cho nên, nay có dấu hiệu “bất
phục” thì đạo hữu bị dị ứng, phản đối ngay. Tiếp
đó là những đoạn ca tụng đạo hữu hết sức, khiến chúng
tôi đâm ra hoang mang, nghi hoặc, không biết là những đoạn
như thế do chính đạo hữu viết, hay là do hai vị T.T. kia.
Nếu chính đạo hữu tự viết để tự ca tụng thì sự hợm
mình có thể sánh ngang với Trần Dân Tiên viết về Hồ chủ
tịch; còn nếu là do nhị vị T.T. được đạo hữu cất nhắc
đề bạt vào GH thì quả là vi trùng mạt pháp đã ăn vào
tủy não của những sứ giả Như Lai nầy rồi! Hãy đọc lại
đoạn này của đạo hữu (hay của quý vị): “... Viện Hóa
Đạo qua PTTPGQT, đạo hữu Võ Văn Ái đã làm được nhiều
thành công lớn lao cho tiến trình giải trừ pháp nạn và quốc
nạn. Cho nên trong cách nhìn của Hội Đồng Lưỡng Viện hôm
nay, rằng trước cũng như cùng thời với ông Võ Văn Ái chưa
thấy một sự thành công nào sánh được như thế.” Cách
nhìn của Hội Đồng Lưỡng Viện không biết đã có “giáo
lệnh” hay sự ủy quyền nào chăng mà có phát ngôn thậm
xưng tán thán kiểu này! Hẳn là “cái loa” này bị mát (mad)
giây thế nào mới có thể tự nó phát ra tiếng nói của nó
mà không cần người khác nói vào. Nói từ trước đến nay
“chưa thấy một sự thành công nào sánh được”, có nghĩa
là đặt công trạng của đạo hữu lên vị trí cao hơn công
đức của giác linh liệt vị tôn đức Tăng Ni, chư Thánh Tử
Đạo, và máu xương của nhiều thế hệ con Phật đã trải
xuống cho sự hình thành, tồn vong và hưng thịnh của Giáo
Hội. Phát ngôn như thế, chẳng phải là “bất kính, phạm
thượng” không những đối với nhị vị đại lão Hòa thượng
mà còn bất kính đối với liệt vị tôn đức Tăng Ni, Thánh
Tử Đạo, quá khứ và hiện tiền hay sao? Hội Đồng Lưỡng
Viện chẳng làm sao có được ý niệm so sánh này, đừng nói
là phát ngôn rõ ràng để đạo hữu (hoặc nhị vị T.T. kia)
nắm được mà đưa ra “cái nhìn.”
Kế tiếp,
bằng giọng hằn học, mất tự chủ, quên luôn vị trí của
mình là đang đóng vai người viết Tâm Thư hay chỉ là người
mớm ý đưa lời, đạo hữu nói: “Thượng Tọa Thích Bổn
Đạt là người mà tuổi đời chưa đủ để trở nên nhân
chứng lịch sử qua những biến cố pháp nạn của Giáo hội
tại miền Nam sau những năm-tháng 1975; Lại là người xa quê
từ khá sớm sau những năm tháng 1975, ngày nay lại đang sống
cách xa biến cố pháp nạn trong nước đến nữa vòng trái
đất. Cho nên việc Thượng Toạ đưa ra một vài nhận định
còn trong giới hạn về Phật Giáo quê nhà như những viện
dẫn nêu trên là điều không thể tránh khỏi.” Ở đây,
phải khẳng định rằng T.T. Chơn Tâm không biết gì về T.T.
Thích Bổn Đạt nên không thể trịch thượng cho rằng
“tuổi đời chưa đủ”; còn nếu biết thì phải biết rằng
T.T. Thích Bổn Đạt là đương kim Chủ tịch HĐĐH GHTN Hải
Ngoại tại Canada, không thể nào “tuổi đời chưa đủ”.
Chắc chắn phải là lời của đạo hữu với tuổi “thất
thập cổ lai hy” mới mạnh dạn viết về “tuổi đời”
như vậy. Nhưng dù là do đạo hữu hay do nhị vị T.T. kia,
cũng đều là lời mách khóe, vô lễ, thiếu lịch sự khi đem
tuổi đời cá nhân của một Tăng sĩ ra để bàn về kinh nghiệm
và sự hiểu biết. Phải chăng tuổi đời có đủ thì mới
hiểu việc? Phải chăng sống cách xa “biến cố pháp nạn
trong nước nữa vòng trái đất” thì sẽ có “nhận định
còn trong giới hạn”? (dùng sai cụm từ “biến cố Pháp
nạn” – biến cố là một sự kiện lịch sử đã qua, không
phải là không gian, nơi chốn, làm sao mà “cách xa” được;
lại viết sai chữ “nữa”! Làm văn hóa, giáo dục, thông
tin, hành chánh, mà dùng chữ sai, viết chính tả sai như vầy
thì quả là GH đang đà xuống dốc!). Thế đạo hữu và chư
tôn đức hải ngoại cách xa GH trong nước nửa vòng trái đất,
và thời gian xa nước dài hơn T.T. Bổn Đạt thì sao, có thể
có nhận định đúng đắn về Phật Giáo quê nhà không? Đạo
hữu rời Việt Nam trước năm 1975 và đã từng tham gia phong
trào phản chiến chống chiến tranh Việt Nam vào thập niên
1960s thì thế nào? H.T. C.L. rời nước vì lý do tình cảm cá
nhân để đi Đài Loan du học tránh tiếng từ năm 1964 thì
thế nào? T.T. Viên Lý vượt biên từ năm 1980 thì sao? Những
vị này đều rời nước trước T.T. Bổn Đạt khá lâu, không
lẽ vì theo “phe ta” nên được ngoại lệ về trí tuệ,
có thể am tường tình hình Phật giáo quê nhà hơn là T.T.
Bổn Đạt?
Kế tiếp,
đạo hữu viết: “Thượng tọa Thích Bổn Đạt tỏ ra bất
kính với Đức Tăng thống và Thầy Viện trưởng khi dám đặt
bút viết: “Nhưng thực tế càng lúc càng chứng minh rõ ràng
rằng, cũng chính vị cư sĩ nầy, nghiễm nhiên trở thành người
lãnh đạo Giáo Hội trong và ngoài nước (sic)”. “Thực tế
càng lúc càng chứng minh...”. Thực tế đó là thực tế nào
? Sao Thượng tọa không chứng minh bằng chứng cứ cụ thể
để chúng tôi trong nước tin theo ? Thượng tọa xúc phạm
danh dự và đức hạnh của nhị vị lãnh đạo, làm như lãnh
đạo của Giáo hội không có trí tuệ để lãnh đạo Giáo
hội sao ? Nếu một “cư sĩ nghiễm nhiên trở thành người
lãnh đạo Giáo Hội trong và ngoài nước” thì Cộng sản
có đến mấy triệu công an, tiền bạc, quyền bính sao không
“lãnh đạo” được nhị vị Hòa thượng ?
Thưa đạo
hữu, Thỉnh Nguyện Thư của GH Canada, do T.T. Thích Bổn Đạt
đại diện ấn ký, trình bày tâm tư nguyện vọng, ưu tư từ
bên trong và ngay cả những dư luận, dị nghị, đàm tiếu,
gièm pha... từ bên ngoài. Thực tế rằng có âm mưu của một
thiểu số biến chất trong GH, vừa thao túng lạm quyền vừa
ngậm máu phun người, kết tội cho những người không đồng
quan điểm, kết bè kết cánh, tạo thế lực nắm hết guồng
máy điều hành GH. Trình bày thực tế này lên nhị vị Hòa
thượng, chẳng có gì gọi là bất kính. Chính vì kính mà
trình bày sự thật để bảo vệ GH, bảo vệ nhị vị ra khỏi
tầm thao túng lũng đoạn của kẻ xấu mà nhị vị không ngờ
tới. Nhị vị Hòa thượng đã không ngờ có những người
đi lệch hướng, có tham vọng và dã tâm, ngay trong nội bộ
GH. Không ngờ tới vì bản chất trung hậu, thương người,
tin tưởng người cộng sự của mình, chứ không phải vì
thiếu trí tuệ.
Thực tế
đó có thể chứng minh được chăng? Bằng cách nào? Bằng
văn kiện, chứng từ (qua giáo chỉ, huấn từ, thông tư, thông
bạch)? Đạo hữu thách thức T.T. Bổn Đạt chứng minh thực
tế đó với bằng chứng cụ thể là vì đạo hữu và T.T.
Viên Lý là những người độc quyền khai thác và trước tiên
tiếp nhận những văn kiện từ trong nước; và những văn
kiện này, dĩ nhiên là chứng từ có thể nhìn thấy bằng
mắt. Nhưng tác động dẫn đến những văn kiện đó thì làm
sao chứng minh cụ thể? Chỉ có thể nhìn dữ kiện, sự kiện
mà hiểu. Đến nước này mà cứ đem văn kiện hành chánh
ra mà nói thì bài học của nhà nước cộng sản làm sao mà
thuộc để mà hiểu họ! Phát ngôn nhân của chính phủ CHXHCNVN
có thể dựa vào hiến pháp và những luật hình sự của nhà
nước cộng sản để chứng minh rằng nhà nước có tự do
tôn giáo, tôn trọng nhân quyền, rằng không hề có sự quản
thúc hay tù đày những vị lãnh đạo GHPGVNTN, rằng không hề
có tù nhân chính trị trong đất nước VN, chỉ có tù nhân
hình sự mà thôi. Thế nhưng thực tế lại ngược hẳn. Thực
tế đó không thể chứng minh bằng văn kiện hành chánh, mà
bằng một chuỗi những dữ kiện nhân-quả nối tiếp nhau,
đưa đến nhận định chính xác về hiện tình GH chúng ta.
Những sự kiện lúc nào cũng thuận lợi theo ý đồ của đạo
hữu và phe nhóm của đạo hữu là chứng minh rõ rệt cho thực
tế ấy.
Câu cuối
cùng của đoạn ấy thực là ấu trĩ và trơ trẽn tương tợ
những câu bào chữa của phát ngôn nhân chính phủ Việt Nam
khi bị tố giác có đàn áp: “Nếu một cư sĩ ‘nghiễm nhiên
trở thành người lãnh đạo Giáo Hội trong và ngoài nước’
thì cộng sản có đến mấy triệu công an, tiền bạc, quyền
bính, sao không ‘lãnh đạo’ được nhị vị Hòa thượng?”
Thưa đạo hữu, đạo hữu thực tâm đặt câu hỏi nầy để
chứng minh đạo hữu không thể can thiệp vào việc “lãnh
đạo” GH hay là ngấm ngầm thổi phồng tầm quan trọng của
cá nhân mình khi đem so sánh với “mấy triệu công an, tiền
bạc, quyền bính”? Chính đạo hữu và mọi người đều
biết rằng, thế lực nhà nước, dù xảo quyệt cách mấy,
cũng không dám công khai kéo mấy trăm chứ đừng nói là mấy
triệu công an, đến vây Tu viện Nguyên Thiều và Thanh Minh
Thiền viện để kiểm soát, lãnh đạo GH, vì sự lộ liễu
này sẽ bị quần chúng và thế giới nhìn ra và lên tiếng
bảo vệ. Nhưng một vài nhân sự nòng cốt của GH có thể
lợi dụng sự tin cẩn của nhị vị Hòa thượng, đưa những
tin tức sai lạc mà quý ngài không thể nắm bắt và kiểm
chứng được, gợi ý, đề nghị, đề bạt, cố vấn, khiến
quý ngài có thể lắng nghe và quyết định một số Phật-sự
quan trọng của GH, ngay cả sự việc sắp xếp và thay đổi
nhân sự. Sự lạm dụng ranh ma xảo quyệt từ bên trong, quần
chúng và thế giới làm sao biết được mà phản ứng! Lộ
liễu kiểm soát và lãnh đạo thì không qua mặt được quý
ngài, nhưng hầu cận và tạo niềm tin, tâu hót liên tục bên
tai thì làm sao quý ngài ngờ tới được!
Kế tiếp,
điều mà Thỉnh Nguyện Thư của GH Canada trình bày về đạo
hữu, chỉ thấy đạo hữu nói phủ đầu rằng T.T. Bổn Đạt
chỉ tin theo “người ngoài”, chỉ biết nghe “người ngoài
dị nghị” và nghe theo báo chí cộng sản trong nước và những
tờ báo nối dài của cộng sản tại hải ngoại. Chúng tôi
nghĩ là tri thức của đạo hữu không đủ tinh tế để hiểu
nổi thâm ý của GH Canada. Sở dĩ Thỉnh Nguyện Thư chỉ nhẹ
nhàng đưa ra vấn đề đạo hữu bị “... (các sách báo trong
nước và hải ngoại, của Phật giáo và không phải Phật
giáo, cộng sản hay không cộng sản từng tố cáo, mà các
thành viên Giáo Hội hải ngoại cố gắng không tin hoặc cố
gắng bào chữa để bảo vệ thanh danh Giáo Hội). Các văn
kiện của Viện Tăng Thống và Viện Hóa Đạo bị người
ngoài dị nghị, cho rằng đều bị giả mạo bởi Cư sĩ Võ
Văn Ái” là vì chưa muốn khẳng định với Hòa thượng Viện
trưởng sự thực đau lòng của tâm thức Tăng Ni và Phật
tử hải ngoại mà thôi. Nếu có thể trực tiếp đảnh lễ
hầu chuyện với Hòa thượng Viện trưởng, thành viên GH Canada
sẽ thưa rằng: có một sự thao túng, lừa đảo, phạm thượng
tinh vi đối với sự lãnh đạo của nhị vị Đại lão Hòa
thượng; và không phải là “giả mạo” văn kiện hay chữ
ký mà chính là mượn ấn tích và uy danh của nhị vị để
lãnh đạo GH.
Không có
cơ hội trực tiếp hầu chuyện, Thỉnh Nguyện Thư của GH
Canada đã trình bày với sự dè dặt và gợi ý tế nhị trên
văn bản, là để mong đợi một sự giải minh và nhận định
tối hậu của Hòa thượng Viện trưởng thay vì chính họ
nói thẳng ra vấn đề. Lấy sách báo và dị nghị bên ngoài
để cảnh giác với Hòa thượng Viện trưởng xét lại nhân
sự mà H.T. tin cậy; nếu H.T. không tin, không nhìn lại, một
mực phủ bác mọi ý kiến của các thành viên khác để chỉ
nghe theo một mình đạo hữu, thì câu trả lời sẽ không phải
là “sách báo” và “người ngoài dị nghị” nữa, mà chính
là nhận định, là kết luận cuối cùng của toàn thể thành
viên GH Canada nói riêng, thành viên của nhiều quốc gia, nhiều
châu lục nói chung. Đáng tiếc là điểm tế nhị này, hẳn
là Hòa thượng Viện trưởng đã cảm nhận được, nhưng
không tiện nói, hoặc chưa có phương tiện thích hợp để
giải minh và khuyến lệ đối với thành viên GH Canada; chỉ
thấy đạo hữu (và nhị vị T.T. kia) sừng sộ, nói hớt,
nhảy vào giải thích và bào chữa lung tung.
Chưa đủ,
đạo hữu còn tự tô phồng công trạng và sự quan trọng
của mình bằng đoạn sau đây. Giống như đoạn tự ca tụng
đã nói ở trước, đạo hữu (hoặc nhị vị T.T. kia) đã
cho người đọc một hình ảnh lố bịch buồn cười của
một vở kịch rẻ tiền, không khác chi mấy với cách đảng
viên cộng sản nịnh bợ, tâng bốc, ca tụng cấp trên. Hoặc
là đạo hữu đã quá trơ trẽn tự ca tụng mình, hoặc là
nhị vị T.T. đồng tác giả đã không còn giữ được chút
tàm quý nào để hết lời khen ngợi và dua nịnh ân nhân bảo
hộ con đường danh vọng của mình:
“Nếu muốn
phủ nhận vai trò Giám Đốc PTTPGQT của Đạo hữu Võ Văn
Ái thì đây xin thưa rằng: muốn đổi “cái loa”: Người
phát ngôn của Viện Hoá Đạo thì xin ai đó giới thiệu cho
“Cái Loa Tốt Hơn”, được vậy thì mới có sức thuyết
phục mọi người. Thế nhưng qua sự Nhìn Người của Viện
Tăng thống và Viện Hóa Đạo trong nước thì cho đến giờ
nầy, chưa thấy có ai hơn Đạo Hữu Võ văn Ái được cả.”
Vai trò Giám
đốc của đạo hữu, chẳng ai phủ nhận làm gì, cũng chẳng
ai tranh giành gì đâu mà hoảng sợ. Nếu đạo hữu cứ làm
cái loa thật tốt như thời gian trước khi được suy cử làm
“phát ngôn nhân” VHĐ (1999) thì chẳng có chuyện gì để
nói. Đàng này, từ khi được làm “phát ngôn nhân”, đạo
hữu biến dạng, biến chất, thành một cái loa bất trị,
muốn nói gì thì nói, ghét ai thì chưởi rủa, phỉ báng, chẳng
nể nang tôn đức Tăng Ni, không tham khảo ý kiến của lãnh
đạo GH, mặc tình vùng vẫy, ngậm máu phun người, được
thế được thời can xía sâu vào việc nội bộ GH. Cái loa
ban đầu thì tốt, nhưng càng lúc càng lộ hẳn sự tệ lậu
rỉ sét, ti tiện nhỏ nhen, không lẽ không lên tiếng cảnh
báo để bảo vệ thanh danh GH! Vậy trước năm 1993, khi chưa
có cái loa này, chẳng lẽ GH không sống nổi? Đạo hữu tự
ca tụng, hoặc nhị vị T.T. tâng bốc đạo hữu bằng đoạn
trên, chẳng phải là “bất kính, phạm thượng” đối với
tập thể Tăng già Phật giáo Việt Nam hay sao? Cũng không ai
muốn “phụ rẫy một Đạo hữu không ngừng phục vụ GH”
từ hơn mười năm qua (không phải “mấy chục năm qua” như
Tâm Thư của T.T. Chơn Tâm ký!); chỉ muốn đạo hữu phát
lồ sám hối, thay đổi cung cách làm việc, tôn trọng chư
tôn đức Tăng già (bất kỳ thuộc GH hay không thuộc GH), không
được “phát ngôn” bừa bãi theo quan điểm và thành kiến
của mình mà phải tham khảo ý kiến của lãnh đạo GH; và
tốt nhất là chỉ nên làm “cái loa” phát thanh về tin tức,
thời sự của GH, chứ không làm “phát ngôn nhân” VHĐ, một
vai trò quá cao so với tầm mức tri kiến và đạo hạnh quá
thấp của đạo hữu.
Nay bước
vào việc thứ 5. Đạo hữu viết, hoặc nhị vị T.T. kia viết
(xin hãy tự xác nhận trước khi đọc tiếp), trích một đoạn
ngắn trong Thỉnh Nguyện Thư của GH Canada: “5. Hoàn cảnh
bị quản thúc của Đức Tăng Thống và Hòa thượng Viện
trưởng (sic) đề bạt và sắp xếp nhân sự theo tư ý của
mình”. Đoạn này ở trang 1, khi nêu tổng quát “6 việc rõ
nét” của Thỉnh Nguyện Thư GH Canada. Rồi ở một đoạn
khác, trang 5, khi đi vào chi tiết về việc thứ 5 này, lại
trích dẫn lần nữa, thay đổi vị trí chữ “sic” về cuối
câu: 5. Còn như Thỉnh nguyện thư nói: “Hoàn cảnh bị quản
thúc của Đức Tăng Thống và Hoà Thượng Viện trưởng đề
bạt và sắp xếp nhân sự Giáo Hội theo tư ý của mình
(sic)” Thì xin thưa rằng: Chẳng những là trong những giai
đoạn sống còn của Giáo Hội trong quá khứ cũng như cho đến
hôn nay, không ai có thể dù với cách nhìn thế nầy hay thế
khác mà lại mạo phạm đến uy danh lãnh đạo Giáo Hội của
Nhị vị Hoà Thượng lãnh đạo Hai Viện trong nước được.”
Đây là hai
đoạn trích vô cùng gian trá. Giới văn học, báo chí thường
gọi hành vi này là “lưu manh văn hóa” hay “gian lận
trong văn học”. Ngoài sự gian xảo trong văn chương thường
được biết đến là “đạo văn” (lấy văn người khác
làm thành của mình), một hình thức man trá khác là trích
văn của người một cách đầy ác ý, xén đầu này, bỏ đầu
kia, ráp lại thành một đoạn văn hoàn toàn không đúng với
ý tác giả, nhằm kết tội tác giả thế này thế nọ. Đạo
hữu đừng chối cãi hay bào chữa cho sự dối gạt trí trá
này, vì đây hiển nhiên không phải là sự vô tình, mà là
cố ý, bởi đã lặp lại hai lần giống nhau. Xin dịch chữ
“sic” ra tiếng Việt: “nguyên văn được viết như vậy”,
rồi thay thế vào hai đoạn trích trên, sẽ thấy sự xảo
trá độc địa của người trích dẫn như thế nào. Nguyên
văn Thỉnh Nguyện Thư của GH Canada ở trang 3, mục 2, viết
rằng: “Hoàn cảnh bị quản thúc của Đức Tăng Thống và
Hòa Thượng Viện Trưởng: Đây cũng là một trong những lý
do cốt lõi khiến cho Giáo Hội bị những phần tử thoái hóa,
lợi dụng sự bưng bít thông tin, đưa những tin tức không
trung thực để hăm dọa và hướng dẫn sự quyết định của
Lưỡng Viện, đố kỵ và gièm pha những bậc lương đống
trung kiên với Giáo Hội, đề bạt và sắp xếp nhân sự Giáo
Hội theo tư ý của mình.” Đoạn này nghĩa lý thế nào ai
đọc cũng hiểu: GH Canada cho rằng có những phần tử thoái
hóa, lợi dụng hoàn cảnh bị bưng bít thông tin của Đức
Tăng Thống và Hòa thượng Viện trưởng mà đưa những tin
tức không trung thực... rồi chính những phần tử thoái hóa
này đã tạo cơ hội để “đề bạt và sắp xếp nhân sự
Giáo Hội theo tư ý của mình.” Nhưng Tâm Thư của T.T. Chơn
Tâm đã cố ý trích dẫn sai, bằng cách cắt xén một đoạn,
khiến cho người nào đọc Tâm Thư của T.T. Chơn Tâm mà không
đọc Thỉnh Nguyện Thư của GH Canada, sẽ hiểu là GH Canada
chỉ trích nhị vị Hòa thượng lãnh đạo Lưỡng Viện đã
“đề bạt và sắp xếp nhân sự Giáo Hội theo tư ý của
mình.” Trong trường hợp này, chữ “sic” dù được giải
thích theo ý nghĩa nào, cách dùng nào, cũng là sự lập lờ
đầy ác ý, cố tình gán tội cho tác giả Thỉnh Nguyện Thư
là “mạo phạm đến uy danh lãnh đạo Giáo Hội của Nhị
vị Hòa thượng lãnh đạo Hai Viện trong nước”. Hành vi
này thật là gian manh, thiếu văn hóa, theo ngũ giới của ưu-bà-tắc
thì phạm giới thứ tư, theo tỳ-kheo giới thì phạm giới
thứ 1 và thứ 3 trong 90 giới ba-dật-đề (như đã nêu ở
trước). Đạo hữu trả lời thế nào về hành vi xảo trá,
lươn lẹo này và từ chỗ này nên quyết định ai là tác
giả Tâm Thư đây? Thưa đạo hữu, chỉ qua một đoạn trích
nói trên, liệu Tâm Thư của T.T. Chơn Tâm còn có giá trị
nào để người đọc tin cậy nữa hay không?
Sau cùng,
Tâm Thư của TT Chơn Tâm xuống giọng cho rằng “sự biểu
tỏ của những tấm lòng trung kiên rất đáng kính ngưỡng”
của GH Canada, nhưng lại đồng thời bênh vực đạo hữu,
đồng hóa đạo hữu Giám đốc với GH qua câu “kết luận
Võ Văn Ái như là “sự đụt phá của nội trùng” ở việc
thứ 5 (lại viết sai chính tả: Thỉnh Nguyện Thư GH Canada
viết rõ ràng là “đục phá” chứ không phải vừa “đụt”
– nương náu, ẩn nấp theo giọng Huế – vừa “phá” như
Tâm Thư trích dẫn), và tiếp đó, qua việc thứ 6, lại viết
như sau:
6. Biểu tỏ
trước Biến chuyển sinh hoạt GHPGVNTN đó là sự biểu tỏ
của những tấm lòng trung kiên rất đáng kính ngưỡng. Thế
nhưng chúng ta có cách biểu tỏ sự thao thức của riêng mình,
con đường mình, của thành viên Giáo Hội. Mặt khác, trước
diễn đàn bạch hoá thông tin toàn cầu thì bản chất của
Nhóm giả danh Phật tử để đánh phá Phật Giáo thì họ không
còn đánh lừa được ai nữa đâu. Cho nên trong biểu tỏ,
chúng ta không nên mượn dùng từ của họ như “Nội trùng”
v.v… như trong Thư Thỉnh Nguyện. Bởi vì như thế là tự
kết nối với kẻ phá hoại Giáo hội mình.
Thưa đạo
hữu, ngoại nhân dùng danh từ “nội trùng” là chuyện của
họ. Danh từ ấy, chẳng phải do họ độc quyền khai thác
sử dụng, vì cũng chẳng phải là sáng tạo mới mẻ gì trong
tự vựng tiếng Việt. Thỉnh Nguyện Thư của GH Canada nói
“Giáo Hội có thể vượt qua trăm năm đấu tranh với ngoại
giáo hay 30 năm đấu tranh với sự đàn áp và hà khắc của
chính quyền để tồn tại, nhưng có thể sẽ không vượt
qua được mạt vận của mình trong sự đục phá của nội
trùng,” không hẳn là nhắm vào cá nhân đạo hữu, mà là
lời cảnh giác chung. Nhưng đạo hữu đã bị ác mộng với
danh từ “nội trùng” mà ngoại nhân ban tặng trước đây,
nay nghe đến thì giật nẩy người, vội vàng cho rằng GH Canada
“nối giáo cho giặc” để đánh phá GH. Xin thưa, đạo hữu
không phải là GH. Đạo hữu không có tư cách nào xứng đáng
để được đồng hóa với GH cả. Ai có đánh phá đạo hữu
thì cũng là đánh phá cá nhân đạo hữu, không thể kết tội
họ là đánh phá GH. Vả lại, nếu bị dị ứng và ác mộng
với danh từ “nội trùng” chẳng lẽ đạo hữu mong đợi
hay có ý đề nghị một danh từ nào khác khá hơn cho mình?
Sư tử trùng chăng? – Không dám đâu! Là tăng sĩ mà phá hoại
chánh pháp, phá hoại GH thì mới “được” ban tặng chữ
“sư tử trùng”, chứ còn Phật tử tại gia không thuộc
năm giới cấm như đạo hữu thì làm sao có được vinh hạnh
làm trùng của sư tử!
Điểm qua
“6 việc rõ nét” mà Tâm Thư phân tích trình bày, trong “cái
nhìn” của chúng tôi, tác giả hoặc tập thể tác giả bức
Tâm Thư (mà T.T. Chơn Tâm ký tên), phơi bày một đời sống
kém giới đức, thiếu tàm quý, nặng tư kỷ, đầy thành kiến.
Như thế, tác giả nầy không tạo được sự khả tín nào
để bàn nói về nguy cơ “Tăng phẩm thoái hóa. Tăng đức
giảm sút và Tăng đoàn phân hóa”, vì chính tâm thức hạn
hẹp của tác giả đã là nguồn gốc dẫn đến sự thoái
hóa, giảm sút và phân hóa trong hàng ngũ Tăng-già rồi. Và
cũng với tâm thức như thế, tác giả Tâm Thư không đủ tư
cách và trình độ nhận thức để cảm nhận đúng đắn về
tình cảm, về cách ứng xử đối với xã hội, nhân quần,
hay đối với dân tộc và đạo pháp.
Đạo hữu
đừng tưởng thành viên GHTN tại Canada, hoặc Tăng Ni và Phật
tử khắp nơi lên tiếng hoặc tỏ phản ứng đối với sự
thay đổi nhân sự vừa qua của GH là ứng xử trong “tình
cảm cá nhân Thầy-Bạn.” Chúng tôi có thể khẳng định
ở đây rằng, sau lưng nhị vị đại lão Hòa thượng lãnh
đạo Lưỡng Viện, T.T. Thích Tuệ Sỹ là biểu tượng sáng
chói nhất mà Tăng Ni Phật tử có thể mong đợi cho sự sống
còn của GH mai sau. Sự có mặt của T.T. Tuệ Sỹ trong GH không
làm lu mờ hào quang của nhị vị đại lão Hòa thượng, mà
trái lại còn làm tăng vẻ trang nghiêm ngời sáng của quý
ngài. Cả ba vị đều là những biểu tượng cao đẹp của
GH hiện nay. Mai sau nếu GH có thêm được một vài biểu tượng
như thế thì thật là đại phước đại hạnh cho Phật giáo
Việt Nam. Tình cảm và sự tôn sùng của Tăng Ni và Phật tử
trong và ngoài nước hướng về các biểu tượng này, không
thể gọi là tình cảm riêng tư, hoặc “tình cảm cá nhân
Thầy-Bạn” được. Tại sao đạo hữu có thể nông cạn
mà không nhìn ra được sự thực này! Hay đạo hữu đã vì
tâm lý đố kỵ mà không thể chịu đựng nổi sự thực GH
có thêm một biểu tượng tuyệt vời mà biểu tượng ấy
lại chính là người mà đạo hữu không thích? Không thích
và ganh ghét đến nỗi phải buông lời hạ cấp để làm giảm
uy tín của người ấy và cả những người tôn kính ngưỡng
mộ người ấy! Những cụm từ hạ cấp ấy, chúng tôi không
muốn mổ xẻ làm gì nơi đây, chỉ xin học theo Phật: không
nhận. Gửi trả lại cho những người mang đến tặng. Đây,
những cụm từ mà không ai có thể tưởng được là người
có văn hóa, làm việc cho GH, tự nhận là “cái loa tốt”
của GH, lại có thể dùng đến để miệt thị người khác
quan điểm với mình: “tình cảm riêng tư, bè phái, chúa động.”
Thư dài chưa
nói hết thành ý xây dựng. Chỉ mong đạo hữu và những vị
cùng phe nhóm thức tỉnh hồi đầu, sám hối với GH và Tăng
đoàn, rồi tiếp tục góp sức trong sứ mệnh tồi tà phụ
chánh, hoằng dương Phật đạo, cứu khổ chúng sinh. Đừng
lo kẻ khác tranh giành chức quyền địa vị với mình; chỉ
nên lo là ở địa vị đang nắm giữ, mình có thể đóng góp
được gì cho tiền đồ đạo pháp và dân tộc hay không. Đại
sự ở đạo hay ở đời, chỉ có thể thành tựu vẻ vang
bằng tâm lượng bao la, rỗng sáng. Dẹp bỏ mọi thành kiến
và tỵ hiềm hẹp hòi đi mới mong thực hiện được sứ mệnh
cao cả của kẻ đại trượng phu.
Hải ngoại
ngày 15 tháng 02 năm 2006,
Nhóm Tăng
Ni Hải Ngoại
* Bản
sao kính gửi:
Đại lão
Hòa thượng Tăng Thống “để kính thẩm tường”
Hòa thượng
Viện trưởng Viện Hóa Đạo “để kính thẩm tường”
Ban Chỉ
Đạo Viện Hóa Đạo GHPGVNTN “để kính tường”
GHPGVNTN Hải
Ngoại tại Châu Âu, Châu Úc, Canada và Hoa Kỳ “để kính
tường”
Lưu.
* Tài
liệu đính kèm để tham khảo:
Thỉnh
Nguyện Thư của GHPGVNTNHN tại Canada kính trình H.T. Viện trưởng
VHĐ GHPGVNTN
Tâm Thư
của T.T. Thích Chơn Tâm kính gửi T.T. Thích Bổn Đạt
Thế nào
là “văn hóa, tu hành và từ thiện xã hội thuần túy”?
(Tăng Ni Hải Ngoại gửi đạo hữu VVA)