NHẬN XÉT VỀ GIẢ
THUYẾT TRONG BÀI TƯỜNG TRÌNH
“BIẾN ĐỘNG MIỀN
TRUNG” (gồm 11 phần, luân lưu qua internet) của ÔNG LIÊN THÀNH,
CHO RẰNG: “NHÀ SƯ
TRÍ QUANG LÀ CỘNG SẢN”
TẠ VĂN TÀI
(HT Thích
Trí Quang, xin viết tắt là TQ trong bài để giảm số chữ
viết, không có ý thất lễ với Hòa Thượng)
Ông
Thành nói: TQ đi tu, từ năm 14 tuổi, ở Chùa Từ Đàm, và
viện dẫn lời nói năm 2000 tại Hà Nội của Tố Hữu là:
năm 1949, Tố Hữu đã làm lễ kết nạp TQ vào Đảng CS tại
mật khu cách Huế chừng 30 cây số. Nhưng lời Tố Hữu có
thể chỉ là lời nói “vơ vào” để làm mất uy tín của
TQ, vì trong quá trình thống nhất Phật giáo toàn quốc năm
1981 TQ đã có sự dè dặt, vì đang mặc cả vài điều, trong
việc thống nhất Phật giáo, đã không đi máy bay ra Hà Nội
do một công an mua vé giùm (có ngại nguy hiểm gì không?), và
có thể Tố Hữu nói vậy để đẩy mạnh các tu sĩ Phật
giáo khác theo chủ trương chấp nhận sự kiểm soát của Đảng.
Vả lại có thực Tố Hữu nói như vậy tại Hà Nội năm 2000
không? Ông Liên Thành có bằng chứng viết về việc này không?
Nếu có, thì thiết tưởng ông Liên Thành không nên tin vào
lời của Tố Hữu, cái con người phản bội—ngay trong liên
hệ cha mẹ, vợ chồng, con cái—vì đã yêu cầu người Việt
Nam bỏ hết đạo đức, sự hiếu thảo cổ truyền của người
Việt mà theo khẩu hiệu “Thương cha, thương mẹ, thương
chồng, Thương con thương một, thương ông (Stalin) thương mười”.
Còn cái lời
khai của cán bộ cộng sản Hoàng K. Loan bị ông Liên Thành
bắt giam trước 1975, hồi ông Liên Thành còn làm Trưởng Ty
Cảnh Sát Thừa Thiên, mà khai với Liên Thành về các thầy
Phật giáo, thì có thể là ông Loan khai bừa, khai láo để
đánh lạc hướng sự tra hỏi của Liên Thành khi Loan là tù
nhân bị khống chế như “cá nằm trên thớt”. Chưa bao giờ
ông Liên Thành nói chuyện giáp mặt với Thượng tọa Trí
Quang, và có lẽ cả với các cao tăng khác, và với tư cách
Trưởng ty Cảnh sát Thừa Thiên, Huế, thì chỉ điều tra những
biến cố ở hạ tầng cơ sở ở Huế, giáp mặt với những
người đang như “cá nằm trên thớt”, thì cùng lắm chỉ
biết được các sự xâm nhập của cán bộ cộng sản vào
Phật giáo ở cấp địa phương tại Huế (điều này là thẩm
quyền, nhưng trong phạm vi giới hạn, của ông Liên Thành,
mà người viết này tôn trọng), nhưng những lời khai ông
Liên Thành thu được cũng rất đáng ngờ, vì có thể là
khai sai lạc để đánh lạc hướng ông Liên Thành. Còn sự
thực là ông Liên Thành KHÔNG phải là nhà tình báo chiến
lược để biết các sự kiện có thật về các tu sĩ ở hàng
giáo phẩm cao cấp ở trung ương Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất thuộc Miền Nam Việt Nam trước 1975.
[Mở
dấu ngoặc, nói ra ngoài đề tài “TQ có là cộng sản
hay không?” một chút, để xin phép đặt câu hỏi và phê
bình một chút về các nguồn tài liệu và phương pháp dẫn
chứng cho các giả thuyết của ông Liên Thành, khi viết bài
tường trình dài về “Biến Động Miền Trung”: (a)
ông di tản ra khỏi nước Việt Nam, thì công an ở các cửa
khẩu cho ông mang tài liệu đi hay sao? hoặc là nếu đi vượt
biên, thì làm sao ông thu thập được và mang được các tài
của những năm ông làm việc ở Ty Cảnh Sát Thừa Thiên Huế,
đã trên dưới 40 năm trời rồi, để mà dựa vào đó mà
viết về từng chi tiết các lời khai của các người ông
thẩm vấn ông đã làm, từng lời khai của các người ông
bắt giữ? (b) nếu ông nói là dựa vào trí nhớ, thì
trừ khi trí nhớ của ông thuộc loại thiên tài, ông có chắc
chắn là nhớ đúng từng chi tiết các lời khai của các người
ông thẩm vấn, chi tiết các sự kiện như các đoàn biểu
tình đi từ nhiều ngả tiến về Huế, đoàn này 500 người,
đoàn kia 700 người, hay không? Và các con số mấy trăm người
biểu tình đó, có ai đứng ngoài đường mà đếm cho chính
xác và trình cho ông hay không? (Ngay cả số lượng dân chúng
các cuộc biểu tình, mít-tinh tại Mỹ trước Lincoln Memorial
tại Hoa Thịnh Đốn, họ đứng tại chỗ, cảnh sát tha hồ
chậm rãi đếm số người, mà sự ước tính của cảnh sát
và của các nhà báo và truyền hình tại Mỹ cũng còn sai lạc,
khác hẳn nhau); (c) dựa vào trí nhớ, thì bao nhiêu phần
trăm (%) là chắc chắn đúng các sự kiện, bao nhiêu phần
trăm còn lại là không chắc chắn vì hoặc ông nhớ sai, hoặc
ông viết them, y như tất cả các thiên hồi ký trên thế giới
này? Sau khi đặt câu hỏi và phê bình về mức khả tín của
các điều trong toàn thể bài của ông Liên Thành viết, bây
giờ tôi đóng dấu ngoặc, xin trở về đề tài “TQ có là
cộng sản hay không”?]
Việc thống
nhất Phật giáo gặp nhiều sự mặc cả gay go, và sự đòi
hỏi tự trị tôn giáo của các thầy Trí Thủ và ngay cả
Trí Quang. Sự chống đỡ cho con thuyền Phật giáo Việt Nam
được độc lập khỏi sự khống chế của Đảng Cộng Sản
đã được nói rõ trong các lời mà Thầy Tuệ Sỹ kể lại
với tăng sinh Thừa Thiên Huế năm 2002: "Trong
Dự thảo Hiến Chương có một điều khoản thế này: GHPGVN
là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc. Cả tôi với Ôn [Trí
Thủ] và thầy Thát thấy không thể chấp nhận được. Họ
thuyết phục rất nhiều. Sau họ sai bà Ngô Bá Thành nói lý
với Hòa Thượng. Sau Ôn kể lại với tôi… Ôn nói như vầy
‘Mặt Trận có Hội Liên Hiệp Phụ Nữ… Giáo Hội tui toàn
là cao tăng, đại đức mà biểu chúng tôi ngồi chung với
mấy bà thì làm sao chúng tôi ngồi?’ Bà Ngô Bá Thành không
trả lời được. Ôn đơn giản lý luận chừng đó thôi…
Sau ra Hà Nội họp, họ vẫn đề nghị lại, nhưng Ôn chống
tới cùng; và nói nếu không được thì Ôn từ chức… Cuối
cùng, họ sợ Ôn từ chức, họ chấp nhận thế này: để
là ‘có thành viên trong MTTQ’, ai muốn vô thì vô [nghĩa là
ai trong Phật giáo muốn vô MTTQ là chuyện cá nhân]. Vậy nên
Ôn chấp nhận.”
Nhưng ở
đây, tôi xin viện dẫn các sự trình bày, ngay trong một bài
tường thuật “Thống Nhất Phật Giáo” của Đỗ Trung Hiếu,
cán bộ của Ban Tôn Giáo Nhà Nước đóng vai chủ chốt trong
việc thống nhất. Ông Hiếu viết bài này trước khi mất
đi, y như để lại một di chúc tinh thần, vì người
mẹ của ông là đệ tử của “Ôn Già Lam” Trí Thủ, và
theo luật về dẫn chứng trong các tòa án ở các nước văn
minh, tòa án phải tin vào lời người trước khi qua đời “trối
trăn” nói về những việc trong đời người ấy, thì tôi
nghĩ độc giả có thể TIN vào những lời ông Hiếu
nói.
Ông Hiếu
cho biết Đảng Cộng Sản Việt Nam rất kính nể các hàng
giáo phẩm cao cấp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất (GHPGVNTN) của Miền Nam, trong diễn trình thống nhất
Phật Giáo toàn quốc.
Ngay ông Xuân
Thủy cũng nói muốn ông Hiếu ‘bố trí cho gặp’ TQ với
tư cách Bí thư Trung Ương Đảng để nghe ý kiến của
“Thượng Tọa Trí Quang”; ông nói “Tôi sẽ tiếp Thượng
Tọa trang trọng.” Vậy, Xuân Thủy muốn gặp TQ với tư cách
nhà sư sáng giá của Miền Nam, không phải là đảng viên Đảng
Cộng Sản.
Ông Trần
Bạch Đằng cũng nói với ông Đỗ Trung Hiếu: “Năm
1964, nhân trận lụt lớn ở miền Trung, quân Giải Phóng chuẩn
bị nhổ các đồn bót ngụy, thượng tọa Trí Quang nêu khẩu
hiệu ‘GHPGVNTN cứu lụt’. Cờ năm mầu dựng trên các ca-nô,
tàu, máy bay trực thăng cứu sạch bọn ngụy quân. Cũng năm
1964, nhân dân phẫn nộ trước chính quyền quân phiệt ngụy,
Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam nêu khẩu hiệu chống quân
phiệt để đẩy mạnh phong trào đô thị, thượng tọa Trí
Quang lập Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc miền Trung đòi hỏi
chính phủ dân sự, gom hết quần chúng về phía mình và đạp
xẹp khẩu hiệu của ta. Năm 1965, Mỹ đổ quân trắng trợn
xâm lược miền Nam Việt Nam, MTGPMN đẩy mạnh phong trào chiến
tranh cách mạng chống Mỹ xâm lược, thượng tọa Trí Quang
nêu khẩu hiệu ‘cầu nguyện hòa bình’ làm hạn chế cuộc
đấu tranh chống Mỹ của ta… Anh Út [Nguyễn Văn Linh] giận
Trí Quang lắm, và MTGPMN chưa hề thua ai, thế mà bị Trí Quang
cho đo ván ba lần. Ba lần đó, Thích Trí Quang đã cứu Mỹ
ngụy một cách nhẹ nhàng.”
Ngay cả Trần
Quốc Hoàn, Bộ trưởng Công An hơn 30 năm, lúc đó nắm chức
Trưởng ban Dân Vận Trung Ương và là thủ trưởng của ông
Đỗ Trung Hiếu, cũng nghe tờ trình của ông Hiếu như sau:
“Đảng
chủ trương thống nhất Phật Giáo Việt Nam, tức là đoàn
kết tất cả các tổ chức Phật Giáo Việt Nam, trong đó GHPGVNTN
là một tổ chức lớn nhất, có qui củ về tổ chức, nhiều
tăng ni uyên thâm Phật học, có trình độ văn hóa, có khả
năng và kinh nghiệm hoạt động cả trong đạo và đời. GHPGVNTN
đã từng có uy tín quốc tế, nhất là sau cuộc đấu tranh
năm 1963. Các tổ chức Phật giáo khác, hoặc là của ta, hoặc
là dễ thuyết phục. Đối với GHPGVNTN không đơn giản chút
nào. Muốn đoàn kết thì phải đề ra chính sách thế nào
cho người ta chấp nhận được. Huống chi tôi biết các tổ
chức Phật Giáo khác, kể cả Hội Phật Giáo Thống Nhất
Việt Nam ở miền Bắc, bên ngoài tỏ ra tuân thủ theo ý kiến
lãnh đạo của Đảng, nhưng trong lòng nào có thích thú gì,
bên ngoài tỏ ra bài bác GHPGVNTN cho vừa lòng Đảng. [Nhưng]
ngay tại chùa Quán Sứ, các nhà sư rầp rập nghe và làm theo
Ban Tôn Giáo Chính Phủ chỉ đạo. Nhưng khi họ đóng cửa
lại, họ đọc sách gì? [Họ đọc] Lục Tổ Huệ Năng và
bộ Tâm Ảnh Lục của thượng tọa Trí Quang, Phật Giáo Hiện
Đại Hóa và Phật Giáo Ngày Nay của thượng tọa Nhất Hạnh…
Họ đọc với tất cả sự say sưa, với tất cả tấm lòng,
vì bao nhiêu năm họ bị bưng bít không có sách gì để đọc…
Đảng lãnh đạo sao cho có sự thống nhất này là sự nghiệp
của chính họ, là sản phẩm của chính họ, chứ không phải
là của Đảng áp đặt. Đảng lãnh đạo là vạch đường
và tạo điều kiện cho họ làm. Đảng sẽ ở trong lòng họ,
nếu Đảng giúp họ thực hiện được nguyện vọng chính
đáng của họ. Ngược lại, sự tác hại chính trị không
lường.”
Ông Trần
Quốc Hoàn đáp lại lời trình của ông Đỗ Trung Hiếu: “Tôi
đồng ý quan điểm anh trình bày.”
Ông Hiếu nói rằng ông Trần Quốc Hoàn nét mặt hớn hở,
ông Hiếu trình bày đến đâu đều thấy ông Trần Quốc Hoàn
gật đầu vui vẻ.
Ban Vận Động
Thống Nhất Phật Giáo, do Hòa Thượng Trí Thủ làm Trưởng
ban, Hòa Thượng Đức Nhuận và Đôn Hậu là cố vấn, bao
gồm bảy, tám hệ phái Phật Giáo Việt Nam (trong Viện
Hóa Đạo GHPGVNTN, chỉ có Thượng tọa Huyền Quang và Quảng
Độ chống đối, bị quản thúc ở Quảng Ngãi và Thái Bình).
Trong một buổi họp đầu tiên để tiến tới Ban Vận Động,
ông Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Chính Trị Bộ / Trưởng ban Dân
Vận Trung Ương trước khi ông Trần Quốc Hoàn nhận chức
này, đã nói với các tu sĩ: “Nếu
quí hòa thượng cho phép, tôi xin được gọi là đạo Phật
của chúng ta và nếu quý hòa thượng không ngần ngại cũng
có thể gọi là Đảng của chúng ta.”
[Ông Linh muốn dùng lời nói thân tình, để lấy lòng các
cao tăng, ám chỉ sẽ tôn trọng Đạo Phật như của chung của
mọi người, chứ không phải ông nói các hòa thượng được
vào “Đảng của chúng ta” hết ráo]
Ông Đỗ
Trung Hiếu nói thêm trong tờ trình của ông là Hòa thượng
Minh Nguyệt (Ban Liên lạc Phật Giáo Yêu Nước) “không
vui, không thích chút nào”, vì phải “làm phó cho Hòa
thượng Trí Thủ, nhưng phải chấp hành ý kiến của Đảng”.
Hòa thượng Phạm Thế Long (Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất--Miền Bắc) cũng không hài lòng. Nhưng “không dám cãi
lại ý của Đảng”. Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy cũng
vậy.
Những ngày
dẫn đến Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo ngày 04 tháng 11,
1981, có mấy điểm đáng chú ý sau đây về liên hệ tốt
đẹp giữa Trí Thủ và Trí Quang:
Ngày 26 tháng
10, 1981, ông Đỗ Trung Hiếu đến Chùa Già lam gặp Thượng
Tọa Trí Quang thì cùng một lúc thấy hai vị, Trí Quang và
Trí Thủ, ở đó. Thượng tọa Trí Quang quay sang “Ôn Già
Lam” (cách ông Hiếu gọi Thầy Trí Thủ) và nói: “Ôn
cùng đàm đạo với chúng tôi cho vui. Việc chung mà”.
Trí Thủ trả lời: “Hai người cứ nói chuyện. Tôi không
nhất thiết phải có mặt. Tôi còn phải sửa soạn lễ Phật”.
Ông Hiếu mô tả tiếp: “Ôn ung dung đi lên chánh điện.
Thượng tọa [Trí Quang] nhìn theo. Nụ cười cả miệng và
mặt, duyên dáng và nhiều cảm tình”. Sau đó TT Trí Quang
nói với ông Hiếu: “Tôi muốn qua anh, ý kiến của tôi
được đến người cao nhất trong Đảng phụ trách việc thống
nhất Phật Giáo Việt Nam.”
Ban Vận Động
Thống Nhất Phật Giáo mở hàng loạt các cuộc thăm viếng
và tham khảo ý kiến các giáo hội, như Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất, Hội Phật Học Nam Việt, Giáo Hội Tăng
Già Nguyên Thủy Việt Nam, Giáo Hội Phật Giáo Cổ Truyền
Việt Nam, Ni Giới Khất Sĩ Việt Nam, Giáo Hội Tăng Già Khất
Sĩ Việt Nam… “Ôn Già Lam” bàn bạc với Thượng tọa Trí
Tịnh (cùng là trong GHPGVNTN) về việc soạn thảo Hiến Chương
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tại Chùa Vạn Đức (ở Thủ
Đức). Ông Hiếu mô tả tiếp việc soạn thảo Hiến Chương:
“Buổi khai bút trang nghiêm tại
thiền viện lầu 3. Hòa thượng Trí Tịnh, Mật Hiển, thượng
tọa Minh Châu, Từ Hạnh tắm gội tinh khiết. Toàn thiền viện
xông mùi trầm thơm nức, ngập phòng trầm hương nghi ngút,
bay quyện linh thiêng. Tất cả quì trước Đức Phật nguyện
cầu và khai bút. Hòa Thượng Trí Tịnh trịnh trọng viết
dàn bài chi tiết bản Hiến Chương và Lời Nói Đầu…”
Nói thêm
về Thượng Tọa (nay là Hòa thượng?) Trí Quang. Ông có nói
tâm sự với người thân, gần gũi (kể cả người mới du
học ở Mỹ về và có người giới thiệu gặp ông vào năm
1970, nghĩa là người mà nếu ông là Cộng Sản, ông không
thể tâm sự được, vì người du học ở Mỹ về đó, tất
nhiên bị suy đoán là thân Mỹ) là: “Lúc nào cũng có thể
có cán bộ cộng sản lấy tư cách là Phật Tử đi vô Chùa
Ấn Quang”, và vì vậy ông phải cẩn thận không để
cho họ giả vờ gây ra “tên bay đạn lạc” như trong biến
cố Mậu Thân chẳng hạn, để sát hại ông. Ngay bây giờ,
ở chùa Già Lam, cũng có cán bộ túc trực ở gần căn buồng
ông ở để coi chừng ông xem có liên lạc với ai đáng ngờ
không (tôi có hình người bà con về thăm ông tại chùa Già
Lam năm 2005, chụp ông và chụp cái cảnh công an ngồi canh
chừng ở quanh quẩn gần phòng ốc của ông). Nếu ông là
Đảng viên Cộng Sản, tức là giả thử ta tin theo lời ông
Liên Thành căn cứ vào lời nói láo của Tố Hữu (mà chắc
lời Tố Hữu có không?), thì tại sao Thầy Trí Quang phải
có những sự cẩn thận như đã nói về thời gian 1968-70,
những hiện tượng canh chừng của công an hiện nay, khi ông
phải đứng trước những người Cộng Sản?
Xin nêu một
điểm nữa về Thầy Trí Quang và Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất trước 1975, mà những người trong chế độ
Việt Nam Cộng Hòa Miền Nam vẫn gọi là “Phật Giáo Ấn
Quang”, để phân biệt với Giáo Hội Việt Nam “Quốc Tự”
(do Thượng Tọa Tâm Châu lãnh đạo), và về việc một số
người vu cáo lập trường hòa bình của Giáo Hội “Ấn Quang”
này là “thân cộng”. Đó là nỗi niềm tâm sự mô tả sau
đây của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, một đại lãnh tụ chống
cộng của Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến (cùng với Giáo sư
Nguyễn Văn Bông—ông Bông bị đặc công cộng sản sát hại
ngay sau khi có tin là ông Nguyễn VănThiệu đề cử ông làm
Thủ Tướng) nói với tôi, sau nhiều năm Giáo sư Huy cùng làm
việc trong cùng một văn phòng với tôi tại Đại học Luật
Harvard, nói trong những ngày tháng mà Giáo sư Huy đang đấu
tranh với bệnh ung thư ngặt nghèo trong miệng lưỡi và biết
rằng mình sẽ ra đi vào cõi vĩnh hằng. Giáo sư Huy nói rằng
trong cuộc bầu cử bán phần Thượng Viện năm 1970, liên danh
“Bồ Câu Nông Dân” của Cấp Tiến đã đạt được sự
thỏa thuận—qua sự giới thiệu của Thượng tọa Trí Quang
(tuy lúc đó “không làm chính trị” công khai nữa, nhưng
còn ảnh hưởng rất mạnh)—thỏa thuận với Liên danh “Hoa
Sen” (thụ ủy là Giáo sư Vũ Văn Mẫu), được Giáo Hội
“Ấn Quang” ủng hộ, là hai liên danh sẽ vận động các
lực lượng quần chúng của hai liên danh bầu cho nhau để
để cùng thắng dễ dàng các liên danh thân chính quyền Nguyễn
Văn Thiệu, vì cuộc bầu cử sẽ chỉ chọn 3 liên danh nhiều
phiếu nhất vào bán phần Thượng Viện mà thôi, còn lại
13 liên danh kia sẽ thất cử. Nhưng rồi liên danh Hoa Sen e ngại
rằng “chúng tôi khuyến cáo đồng bào ủng hộ chúng tôi
bầu cho các anh, nhưng giả thử các anh ngấm ngầm không tôn
trọng thỏa thuận và không khuyến cáo đồng bào ủng hộ
các anh bầu cho chúng tôi, trong khi chúng tôi giữ chữ tín
mà bầu cho các anh, rút cục chúng tôi bị rớt xuống hàng
thứ 4—và thất cử thì sao?”, cho nên liên danh Hoa Sen đã
quyết định “việc ai người ấy lo”, cứ để cho sức
mạnh quần chúng của ai có thì người ấy hưởng, theo “ý
dân là ý trời”. Rút cục, liên danh Hoa Sen về nhất, với
1,149,597 phiếu, liên danh Cấp Tiến về hàng thứ 5, với 654,833
phiếu (tài liệu trong thư viện ở Harvard Yenching Library). Giáo
sư Huy tâm sự với tôi, nói rằng ông “rất giận” về
sự thất hứa của Thượng Tọa Trí Quang. Tôi có nói với
Giáo sư Huy: "Thầy Trí Quang thất hứa, hay là chính các người
trong Liên danh Hoa Sen tự quyết định không tranh cử theo lối
liên minh nữa, mà theo lối ‘việc ai người ấy lo’?” Rõ
ràng là Thầy Trí Quang đã đồng ý cho liên danh có Phật Giáo
“Ấn Quang” ủng hộ liên lạc với một lực lượng chống
cộng là Cấp Tiến, khi Cấp Tiến tìm thế liên minh để có
nhiều quần chúng hơn ủng hộ mình, và rõ ràng là Giáo sư
Huy, đại lãnh tụ chống cộng, TIN TƯỞNG rằng Phật Giáo
“Ấn Quang” là một lực lượng quốc gia, nên tìm thế liên
minh với lực lượng ấy, để cứu vãn Miền Nam Việt Nam
khỏi vào tay Cộng Sản với một chế độ dân chủ thực
sự, có quần chúng ủng hộ. Khi Phật Giáo “Ấn Quang”—sau
một thời gian ngắn đứng ngoài sinh hoạt chính trị Miền
Nam Việt Nam từ 1967 đến 1970—bằng lòng nhập cuộc chính
trị trong cuộc bầu cử 1970 để củng cố nền dân chủ ở
Miền Nam như vậy, thì tức là Phật Giáo Ấn Quang đã tin
vào khả năng phát triển một chế độ dân chủ ở Miền
Nam, không cộng sản (chính ông Liên Thành cũng viết là các
tướng lãnh e sợ Thượng tọa Trí Quang “là một trở ngại”
khi mà, vào những năm 1964-66, Thượng tọa đòi hỏi phải
bầu cử Quốc Hội Lập Hiến để dân sự hóa chế độ).
Nền dân chủ Miền Nam Việt Nam chỉ bị chết yểu khi, trong
cuộc bầu cử Tổng Thống 1971, ông Thiệu đã dùng thủ đoạn
để gạt ông Kỳ ra khỏi cuộc tranh cử, sợ ông Kỳ chia
phiếu khi ông Thiệu phải trực diện với ông Dương Văn Minh,
cho nên sau đó ông Minh cũng chán nản mà thôi không ra tranh
cử tổng thống nữa, và rút cục ông Thiệu ra tranh cử một
mình, trong một cuộc bầu cử rất là vô duyên, không còn
có tính cách dân chủ nữa.
Ông Liên
Thành viết rằng “Liên danh Nguyễn Văn Thiệu-Trần Văn Hương
thắng phiếu trong cuộc bầu cử”. Xin hỏi: Ông Thiệu thắng
ai? Có ai đối lập với ông Thiệu đâu mà ông Liên Thành
nói ông ấy “thắng”? Tôi không muốn tranh luận dài dòng
làm gì về các cuộc bầu cử hồi đó (tôi có bài viết ở
nơi khác), chỉ xin trở lại đề tài và nêu câu chuyện của
Giáo sư Huy để chứng tỏ các cao tăng của Phật giáo
“Ấn Quang” không phải là cộng sản, ngay trong cái nhìn
của nhà đại lãnh tụ chống cộng Nguyễn Ngọc Huy.
(Tôi vẫn KHÔNG nói là ở hạ tầng cơ sở tại Huế
của Giáo Hội Ấn Quang hồi đó, đã không có những người
cộng sản xâm nhập).
KẾT LUẬN:
RÕ
RÀNG LÀ CÁC TĂNG SĨ CAO CẤP CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT
NAM THỐNG NHẤT TẠI MIỀN NAM KHÔNG PHẢI LÀ ĐẢNG VIÊN CỘNG
SẢN, MÀ LẠI CÒN ĐƯỢC SỰ NỂ NANG, chứ không phải tuân
theo lệnh, CỦA CÁC ĐẢNG VIÊN CAO CẤP NHẤT CỦA ĐẢNG CỘNG
SẢN.
Ngày 19, tháng
2, 2008
Tạ
Văn Tài
Luật sư
tại Mỹ (và nguyên luật sư ở Việt Nam), nguyên Giáo sư các
đại học Việt Nam, kể cả Vạn Hạnh, và nguyên giảng sư
Harvard Law School (xin ghi quá trình nghề nghiệp như vậy là
chỉ có mục đích duy nhất là để độc giả biết là người
viết, vì theo tôn chỉ các nghề nghiệp của mình, luôn luôn
tôn trọng các tiêu chuẩn khách quan, khoa học trong việc viết
về các biến cố lịch sử, và rất trân trọng bảo vệ sự
thật và sự khả tín của những điều mình viết ra)
02-24-2008
11:23:14