QUYẾT NGHỊ ĐẠO VĂN QUYẾT NGHỊ
Trần Lư
Ai cũng biết quyết nghị của một đại hội là văn bản đúc kết nội dung cốt lơi của đại hội ấy. Không có h́nh thức cứng nhắc cho một quyết nghị, nhưng tựu trung th́ các quyết nghị đều nói đến thời gian, địa điểm và thành phần nhân sự tham dự đại hội, có thể đưa ra những nhận định hay đường hướng chung, dẫn đến quyết tâm thực hiện một số dự án và chương tŕnh nào đó của tổ chức.
Chính v́ quyết nghị là cốt lơi, là tinh ba của cả đại hội, h́nh thức và nội dung của nó mặc nhiên biểu hiện ư chí và trí tuệ của tập thể tham dự.
Vậy, nếu quyết nghị của tổ chức này đạo văn, đạo ư quyết nghị của tổ chức khác th́ hành vi này nói lên điều ǵ? Tất nhiên trong văn chương, không khó khăn ǵ cho người ta nhận ra ai là kẻ đạo văn (plagiarist): người nào viết (hoặc nói) ra trùng lặp với người đă viết và phổ biến trước th́ người đó phạm tội ăn cắp văn ư. Hành vi đạo văn là hành vi sao chép, chụp nguyên ư tưởng, văn từ hoặc sản phẩm sáng tạo của kẻ khác rồi tŕnh bày như là của chính ḿnh, đặc biệt là chẳng xin phép ǵ cả (The act of plagiarizing: the copying of another ideas, text or other creative work, and presenting it as one’s own, especially without permissions – Eng.Wiktionary).
Trong trường hợp hai quyết nghị của hai tổ chức khác nhau, cái được phổ biến vào tháng 9, cái phổ biến vào tháng 12, có văn đoạn và ư tưởng giống nhau (không thể nói là t́nh cờ), tất nhiên cái quyết nghị sinh sau đẻ muộn vào tháng 12 là quyết nghị đạo văn.
Để khỏi mang tiếng đạo văn, chỉ có trường hợp những kẻ đồng tâm kư vào quyết nghị sau tuyên bố rằng chúng tôi quyết tâm noi gương (hoặc bắt chước) quyết nghị đi trước, nên chẳng cần phải nặn óc suy nghĩ ra ư mới, câu mới làm ǵ. Không chấp nhận sự thành tâm noi gương bắt chước này có nghĩa là nhận tội ăn cắp văn ư của quyết nghị đi trước.
Tôi muốn nói đến Quyết nghị của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ (GHPGVNTNHK) kư ngày 18/9/2009 tại Tu viện An Lạc, thành phố Ventura, California, Hoa Kỳ, và Quyết Nghị của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) kư ngày 04/12/2009 tại Chùa Giác Hoa, Sài G̣n, Việt Nam.
Xét về danh xưng, hai tổ chức giáo hội này cùng là Giáo Hội Thống Nhất (GHTN) và cùng là tổ chức Phật giáo, cho nên sẽ không có việc tố tụng kiện cáo ǵ ở đây. Nhưng v́ từ nhiều năm nay, nhất là từ khi Giáo chỉ số 9 bị phanh phui như là một “văn bản trí trá” [1], hầu như giới Tăng Ni và Phật tử Việt Nam đều ngầm hiểu rằng các văn thư, thông cáo, thông bạch, quyết nghị... của Viện Hóa Đạo (VHĐ) GHPGVNTN trong nước và Văn Pḥng 2 Viện Hóa Đạo (VP2 VHĐ) ngoài nước, đều do ông Vơ Văn Ái tự biên tự diễn (trong đó có nhiều trường hợp “tiền trảm hậu tấu” như Giáo chỉ số 9, Giáo chỉ số 10, Thông bạch 31...), nên dù Quyết nghị của “Hội nghị mở rộng” ngày 04/12/2009 của GHPGVNTN kư tên HT. Thích Quảng Độ, tôi vẫn coi đó là văn bản của ông Vơ Văn Ái, và ông Vơ Văn Ái là người chịu trách nhiệm trong việc đạo văn quyết nghị của GHPGVNTNHK.
Trước khi đi vào chuyện đạo văn (plagiary), hăy cùng xem qua Thông Cáo Báo Chí ngày 08/12/2009 của Pḥng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế do ông Vơ Văn Ái làm giám đốc, để xem ông ngồi bên Pháp mà viết tiểu thuyết hư cấu (fiction novel) về Hội nghị mở rộng tại Chùa Giác Hoa, Sài G̣n như thế nào. Đây là đoạn mở đầu của ông Vơ Văn Ái để giới thiệu Quyết Nghị của VHĐ GHPGVNTN trong nước:
“PARIS, ngày 8.12.2009 (PTTPGQT) - Đại lăo Hoà thượng Thích Quảng Độ, Xử lư Thường vụ Viện Tăng thống kiêm Viện trưởng Viện Hoá Đạo đă triệu tập Hội nghị mở rộng của Hội đồng Lưỡng Viện (Viện Tăng thống và Viện Hoá Đạo) tại chùa Giác Hoa, thành phố Saigon, nhằm tổng kết hoạt động nhiệm kỳ 2007- 2009, thảo luận phương hướng và hành động cho nhiệm kỳ 2009- 2011, và cung thỉnh nhân sự Lănh đạo Hội Đồng Lưỡng Viện nhiệm kỳ mới.
Nhưng điều đáng lưu tâm từ 8 giờ sáng ngày thứ sáu 4.12, toàn bộ khu vực chùa Giác Hoa đều bị cắt sóng Internet, điện thoại cho đến 17 giờ chiều. Hàng chục công an, cán bộ các ngành, các giới cũng đến rất sớm để quan sát, theo dơi. Công an bao vây từ đầu hẽm, vào đến trong chùa. Từ Chánh điện đến nhà bếp, công an túc trực trong tư thế sẵn sàng đàn áp, sách nhiễu hoặc chống biến động.
Dù vậy 40 chư Tăng và 10 Cư sĩ đại diện các tỉnh thành miền Trung và miền Nam đều tề tự đông đủ về chùa Giác Hoa, ngoại trừ Ban Đại diện miền Bắc không về được. Trong phần phúc tŕnh Phật sự nhiệm kỳ qua, các Ban Đại diện cho biết mấy ngày trước đó công an đă đến doạ các thành viên không được về dự Hội nghị tại chùa Giác Hoa, v́ sẽ có nhiều chuyện “không tốt” xẩy ra. Nhưng các Ban Đại diện không chấp hành sự ngăn cấm phi pháp của công an.
... Đại hội đưa ra 6 nhận định về thế đứng lịch sử của Giáo hội trước chủ trương đàn áp, phân hoá, cô lập của nhà đương quyền Cộng sản, cũng như trước hiện t́nh ngoại bang xâm lấn lănh thổ và lănh hải Việt Nam, và xác định Giáo chỉ số 9 của Đức cố Tăng thống ban hành ngày 8.9.2007 “đă cứu nguy mạng mạch của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, cần phải được phát huy toàn diện để đáp ứng với công cuộc giải trừ Quốc nạn và Pháp nạn hiện nay”.
Sau sáu nhận định nói trên, là Quyết nghị 15 điểm trên 3 lĩnh vực : Đối với các Cấp Lănh Đạo Giáo Hội, Đối Với Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, và Đối với thất chúng Phật tử.
Có vài điểm cần lưu ư ở phần mở đầu Thông Cáo Báo Chí, chính thức là lời của ông Vơ Văn Ái:
- “triệu tập Hội nghị mở rộng” thay cho Đại hội Khoáng Đại của Nội qui và Hiến chương GHPGVNTN: điểm này đă được ông Thấu Tâm Can lưu ư và đặt dấu hỏi trên diễn đàn mailgroup baovechanhphap vào ngày 08/12/2009. Tại sao có chuyện thay đổi từ ngữ này, không thấy một văn bản chính thức nào của VHĐ đưa ra. Ai ép GHPGVNTN phải thay đổi Đại Hội Khoáng Đại thành “Hội nghị mở rộng”. Thay đổi như vậy có lợi ích ǵ, và “hội nghị mở rộng” có được chính danh, có được công nhận về mặt hành chánh pháp lư là có giá trị tương đương với Đại Hội Khoáng Đại toàn quốc hay không?
- “Từ 8 giờ sáng ngày thứ sáu 4.12, toàn bộ khu vực chùa Giác Hoa đều bị cắt sóng Internet, điện thoại cho đến 17 giờ chiều: như vậy không biết HT. Thích Quảng Độ, Xử lư Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện trưởng VHĐ có đến tham dự được không, không thấy ông Vơ Văn Ái đề cập. Nếu HT. Thích Quảng Độ từ Thanh Minh Thiền Viện có thể qua Chùa Giác Hoa để chứng minh, chủ tọa cho Hội nghị mở rộng th́ có nghĩa là công an chẳng có bao vây, chẳng cản trở, cũng chẳng quản thúc tại gia ǵ cả (như lâu nay ông Vơ Văn Ái kêu gào đ̣i trả tự do cho ngài); c̣n nếu HT. Thích Quảng Độ không thể rời Thanh Minh Thiền Viện (v́ bị quản thúc) th́ ngài cũng chẳng họp hành ǵ với Hội nghị mở rộng cả, v́ internet và điện thoại của Chùa Giác Hoa bị cắt hết rồi. Như vậy, làm sao ngài có thể cùng ngày đó kư vào văn bản Quyết nghị? Chẳng lẽ kư mà không đọc qua? hay là chỉ kư qua điện thoại sau 5 giờ chiều ngày 04/12/2009? hay là đến ngày 08/12/2009 khi Pḥng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế soạn xong Quyết nghị th́ mới có chữ kư của ngài? C̣n như nói rằng chỉ có điện thoại và internet của Chùa Giác Hoa bị cắt, c̣n điện thoại di động (mobile phone) th́ vẫn hoạt động b́nh thường thế th́ lâu nay HT. Thích Quảng Độ và toàn thể Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN đâu có hề hấn ǵ về việc quản thúc, bao vây, bưng bít của công an CS. Chẳng lẽ tŕnh độ đàn áp của CSVN chỉ cao đến mức là cắt sóng internet và điện thoại Chùa thôi sao, không kiểm soát nổi điện thoại di động? 40 Tăng và 10 cư sĩ từ các tỉnh thành miền Trung và miền Nam có thể “tề tựu đông đủ” mà không ai bị bắt trước hay sau hội nghị th́ sao gọi là CS đàn áp ngăn cấm GHPGVNTN?
- Nhận định thứ 6 của bản Quyết nghị nói rằng: “Giáo Chỉ Số 09, do Đức Cố Đệ Tứ Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ban hành ngày 8.9.2007, đă cứu nguy mạng mạch của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, cần phải được phát huy toàn diện để đáp ứng với công cuộc giải trừ Quốc nạn và Pháp nạn hiện nay.” Không biết Giáo chỉ ấy đă “cứu nguy” thế nào mà loại trừ hầu hết thành phần nhân sự của GHPGVNTN trong và ngoài nước để giữ lại một thiểu số có quyền hạn và trách nhiệm “vô thời hạn”? Giáo chỉ này được ban hành từ quyết định của Hội Đồng Lưỡng Viện trong “cuộc họp khẩn hôm 22.8.2007 để nghe báo cáo Phật sự Giáo hội trong và ngoài nước và t́m biện pháp khai thông,” nhưng hai trong số các báo cáo xảy ra sau cuộc họp này 1 ngày và 7 ngày (theo phân tích của Lê Nguyên và Giang Mặc Tử, nguồn dẫn ở phần chú thích). Mâu thuẫn thời gian này cho thấy Giáo chỉ số 9 chỉ là kết quả của sự hoảng loạn, sợ hăi của tác giả Giáo chỉ (chắc chắn không phải từ Đức Tăng Thống hay từ Viện Hóa Đạo). Chiếu theo thời gian th́ cuộc họp đă “phỏng đoán” các sự kiện sắp xảy ra chứ không phải là “nghe báo cáo” về sự kiện đă rồi. Suy ra, “chiến dịch nước lũ” của CSVN nhằm “dập tắt tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế” [2] chỉ là sự “phỏng đoán” hay hoang tưởng, nếu không nói là cố t́nh bịa đặt của một thiểu số tham quyền cố vị của VP2 VHĐ tại hải ngoại. Thực tế không thấy chiến dịch nước lũ nào xảy ra, chỉ thấy hậu quả là VP2 VHĐ tiếm danh, tiếm quyền VHĐ trong nước để “thanh lọc hàng ngũ Giáo hội” [3] gây ra sự khủng hoảng và phân rẽ chưa từng có trong lịch sử hoằng pháp của Phật giáo Việt Nam hải ngoại. Điều dễ hiểu ở đây là sau khi bị “lật tẩy” về sự man trá và tai hại khôn lường của Giáo chỉ số 9, tác giả của nó (ông Vơ Văn Ái và VP2 VHĐ) đă cố gắng lặp đi lặp lại Giáo chỉ này trong các văn thư của Giáo hội suốt những năm qua nhằm gieo vào đầu Phật tử và người Việt hải ngoại nói chung rằng Giáo chỉ số 9 là của Đức Tăng Thống, rất giá trị, có tính cách “cứu nguy Giáo hội”, cần “khâm tuân” và “phát huy toàn diện”. Người ta quên rằng văn bản đó đă ban hành và phổ biến khắp nơi rồi, và đă lộ nguyên h́nh những sai lầm của nó theo thời gian. Lịch sử sẽ là phán quan công bằng để nhận định về văn bản ấy. Những kẻ tiếm danh tiếm quyền sáng chế ra nó dù có ngụy biện đến đâu cũng không qua mặt được nhăn quan của số đông, của lịch sử.
Bây giờ hăy nói về chuyện đạo văn của Quyết nghị ngày 04/12/2009. Xin nhắc lại, tôi không tin tác giả Quyết nghị này là của HT. Thích Quảng Độ.
Quyết nghị của GHPGVNTN Hoa Kỳ (tạm gọi QN1) kư ngày 18/9/2009 tại Tu viện An Lạc, trong Đại hội Thường niên lần thứ 1, nhiệm kỳ I (2008-2012), với sự tham dự yểm trợ của đại diện các giáo hội PGVNTN Âu châu, Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan và Cananda, đưa ra 3 nhận định như sau:
- “Giới luật là thọ mạng của chư Phật: nghiêm tŕ giới luật và tuân thủ các nguyên tắc yết-ma truyền thống của Tăng đoàn là yếu tố nền tảng để củng cố nội lực của giáo hội hầu phát huy sứ mệnh hoằng pháp lợi sinh, đồng thời cũng là phương cách tốt nhất để xây dựng vững chắc niềm tin của phật-tử đối với việc tu tập và hộ tŕ Tam Bảo;
- Định lực là bản thể của tuệ giác: kiên tŕ, nhẫn nhục, tinh tấn tu tập, giữ ǵn tâm ư thanh tịnh vững chăi trước bát-phong là áo giáp để vượt qua các xuyên tạc, phá hoại nhắm vào tự thân cũng như đoàn thể Phật giáo;
- Trí tuệ là sự nghiệp duy nhất: nỗ lực thực hành giáo pháp và phát huy hơn nữa công tác văn hóa, giáo dục, hoằng pháp là trách vụ dài lâu và cốt thiết của người con Phật để ǵn giữ và phát triển đạo vàng trong mọi quốc độ;”
Đây là bố cục đặc biệt ít thấy trong các quyết nghị có mặt trước đây, v́ các nhận định của Đại hội này đặt cấu trúc của nó trên nền tảng của Giới, Định, Huệ, biểu hiện rơ rệt đường hướng sinh hoạt của Giáo hội dù trong hoàn cảnh và quốc độ nào cũng không rời khỏi lư tưởng của Phật Pháp. Trong Phật giáo, Giới, Định, Huệ, không phải là mới, nhưng cấu trúc để nêu các nhận định này là mới, do toàn thể cử tọa Đại hội soạn thảo và thông qua.
Cũng nên nhớ Giới, Định, Tuệ ở trên không phải là nhận định mà là nền tảng để từ đó tiến xuất những nhận định. Trong 3 đoạn trên, câu “Giới luật là thọ mạng của chư Phật” và “Trí tuệ là sự nghiệp duy nhất” là những câu trích từ kinh điển, ai cũng thuộc ḷng. Nếu Quyết nghị sau cũng trích dẫn y hệt Quyết nghị trước th́ không thành vấn đề. Chẳng qua chỉ là bắt chước bố cục thôi. Nhưng câu “Định lực là bản thể của tuệ giác” th́ không phải là một câu văn phổ cập của kinh điển. Câu này lấy ư từ câu “định là thể của tuệ” (Pháp Bảo Đàn Kinh), không phải là ai cũng dịch giống nhau. Chữ “định” có thể được giữ nguyên, hoặc dịch là thiền định, hoặc thiền, hoặc định tâm, định ư, nhất tâm, chí tâm, nhất niệm, v.v... Có nghĩa là có hàng khối từ để diễn đạt chữ này. Chữ “thể” cũng vậy, có thể giữ nguyên là thể, hoặc thể tính, tính thể, bản tính, bản chất, thực tính, v.v... không phải ai cũng diễn thành “bản thể”. Chữ “tuệ” th́ có các chữ trí tuệ, trí, trí giác, giác tuệ, tuệ giác... nhiều chữ lắm. V́ vậy, với câu “định là thể của tuệ” mà hai người diễn dịch giống nhau y hệt thành “Định lực là bản thể của tuệ giác” th́ không thể nào nói là sự trùng hợp t́nh cờ.
Hăy nh́n kỹ Quyết nghị của GHPGVNTN (tạm gọi QN2) do ông Vơ Văn Ái và VP2 VHĐ soạn thảo, đoạn cuối cùng:
“III/. Đối với thất chúng Phật tử :
III.1/. Cương quyết nghiêm tŕ giới luật để phát huy sứ mạng Hoằng Pháp lợi sinh, v́ Giới luật là thọ mạng của Chánh Pháp.
III.2/. Cương quyết thực hiện hạnh Tinh Tấn, Dơng Mănh, Kiên Tŕ, Nhẫn Nhục và bất khuất, để phát huy Định Lực v́ Định Lực là bản thể của Tuệ Giác.
III.3/. Cương quyết thực hành đường lối của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất để đẩy mạnh công cuộc giải trừ Quốc Nạn và Pháp Nạn, v́ đường lối của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chính là lư tưởng bảo vệ vẹn toàn tổ quốc, độc lập tự chủ ; dân tộc an cư lạc nghiệp trong một thể chế đa nguyên pháp quyền. Trước mắt là thực hành lời kêu gọi “ TẨY CHAY HÀNG HÓA TRUNG QUỐC ” của Đại Lăo Ḥa Thượng Xử Lư Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hoá Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, ban hành ngày 03/10/2009. Đây, không là chủ trương chống nhân dân Trung quốc, mà là thái độ cần thiết, bày tỏ mối bất b́nh của 85 triệu con dân Việt Nam trong và ngoài nước, trước những hành động bất minh thô lậu của hai đảng Cộng Sản Việt Nam - Trung Quốc. Nên nhớ cho rằng, mối liên hệ “16 chữ vàng và 4 tốt” giữa 2 đảng Cộng sản Việt-Trung chỉ là những gông cùm, xiềng xích đối với toàn thể dân tộc Việt Nam. Chớ nên ỷ thế mạnh, ỷ t́nh đồng chí láng giềng, mà xúc phạm tự ái dân tộc!”
So sánh văn bản QN1 và QN2, người ta thấy, không những QN2 bắt chước bố cục dùng Giới, Định, Tuệ làm nền tảng của QN1, mà c̣n bắt chước ư tưởng, sao chép nguyên văn câu “Định lực là bản thể của Tuệ Giác.”
Hai câu nói về Giới và Định th́ quá rơ ràng, QN2 chỉ thêm bớt vài chỗ, và đảo vế trước ra vế sau; dùng chữ “v́” để thay thế dấu hai chấm (:) của QN1.
Phần Giới, QN1 nói “nghiêm tŕ giới luật” th́ QN2 cũng nói “nghiêm tŕ giới luật”; QN1 trích câu “Giới luật là thọ mạng của chư Phật” th́ QN2 cũng trích dẫn câu này, đổi hai chữ; QN1 nói về “tuân thủ các nguyên tắc yết-ma của Tăng đoàn” th́ QN2 không dám nói, v́ lâu nay VP2 VHĐ chuyên phá yết-ma tăng, tự tung tự tác muốn làm ǵ th́ làm, không muốn tuân thủ truyền thống dân chủ này.
Phần Định, QN1 nói “kiên tŕ, nhẫn nhục, tinh tấn” th́ QN2 cũng nói “Tinh Tấn, Dơng Mănh, Kiên Tŕ, Nhẫn Nhục”, chỉ đảo vị trí; c̣n câu “Định lực là bản thể của tuệ giác” của QN1 th́ QN2 chỉ đổi chữ “tuệ giác” viết thường thành “Tuệ Giác” viết hoa. Câu này, nếu bảo là của chung có trong kinh điển, không phải đạo văn, vậy xin hỏi QN2 đă trích từ kinh điển nào? Xin thưa là không có đâu. Chỉ có “định là thể của tuệ” trong kinh Pháp Bảo Đàn thôi. Vậy, chuyện đạo văn ở đây là điều không thể chối căi.
Phần Tuệ, QN2 không bắt chước QN1 chút nào cả. Nhưng điều không bắt chước ở đây lại là một tai hại khó ḷng tha thứ cho một tổ chức mệnh danh Phật giáo. V́ đạo Phật là đạo của Trí Tuệ, bỏ Trí Tuệ đi th́ là ǵ? Thà cứ bắt chước trọn vẹn đầy đủ cả Giới, Định, Tuệ, chẳng sao, c̣n hơn bỏ mất Tuệ. Trong khi QN1 nêu cao việc thực hành giáo pháp và phát huy hơn nữa về việc hoằng pháp, văn hóa, giáo dục th́ QN2 tránh né, bỏ đi, có nghĩa là VP2 VHĐ không cần “Tuệ”, chỉ muốn hoạt động trong hoang tưởng, thiếu trí tuệ, thiếu sáng suốt, không dựa vào trí tuệ giác ngộ như lời Phật dạy. Thay vào đó, QN2 đă đưa ra “đường lối của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chính là lư tưởng bảo vệ vẹn toàn tổ quốc, độc lập tự chủ; dân tộc an cư lạc nghiệp trong một thể chế đa nguyên pháp quyền.” Đường lối này không biết có nhất quán với tinh thần Hiến Chương GHPGVNTN hay không? Sao không thấy Hiến Chương nói đến. Tất nhiên thành viên GHPGVNTN có quyền suy diễn từ điểm cốt lơi của Hiến Chương để đặt ra những đường lối thích hợp trong một giai đoạn nào đó, nhưng nếu chỉ là giai đoạn th́ nói rơ là giai đoạn, chứ không thể khẳng định đây là “đường lối” là “lư tưởng” của GHPGVNTN! Không lẽ GHPGVNTN thành lập chỉ là để “bảo vệ vẹn toàn tổ quốc, độc lập tự chủ; dân tộc an cư lạc nghiệp trong một thể chế đa nguyên pháp quyền”! Vậy chứ lư tưởng tối thượng của Sứ giả Như Lai là “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh” để ở đâu?
Tại sao phải phân tích chuyện đạo văn ở đây, để làm ǵ, được ǵ? - Xin thưa, là để phân định đâu là thực, đâu là giả, đâu là thực tâm, đâu là mô phỏng nói như vẹt, đâu là chính danh, đâu là tiếm danh. Ở đời này, từ xưa đến nay, có kẻ chính danh nào mà đi đạo văn của kẻ tiếm danh không? Ngược lại th́ có.
Tính cách đạo văn qua một quyết nghị, văn bản gọi là đúc kết ư chí và trí tuệ của một tập thể thông qua một đại hội, tự nó đă chứng minh phẩm cách và hướng đi của tập thể ấy.
Vậy, theo ư tôi, một là quư vị VP2 VHĐ, đại diện là phát ngôn nhân Vơ Văn Ái, nên công bố rằng “chúng tôi muốn phỏng theo Quyết nghị của GHPGVNTNHK v́ Quyết nghị của quư vị hay quá!”, hoặc là cứ im lặng, chấp nhận tội đạo văn, đạo ư.
San Jose, ngày 09 tháng 12 năm 2009.
Trần Lư
[1] Mời xem bài “Giáo chỉ số 9, một văn bản trí trá, phá nát, đập tan GHPGVNTN hải ngoại,” của Lê Nguyên, cũng như bài “Trái đắng bộc phá” của Giang Mặc Tử, với các links sau đây: http://phusaonline.free.fr/PhatHoc/TinTuc/GHTN/50_GC9_vanBanTritra.htm hoặc http://www.vuonlam.us/1_TrongSongGio/TraiDangBocPha.htm
[2] Thông bạch Hướng dẫn Thi hành Giáo chỉ số 9 của Viện trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN.
[3] Nguồn đă dẫn ở chú thích 1.